Pages

Truyện cổ tích: TẤM CÁM (BẢN GỐC)

Tấm Cám (Bản gốc) | Truyện cổ tích Việt Nam
Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ, gần trạc tuổi nhau. Tấm là con vợ cả. Cám là con vợ lẻ. Mẹ Tấm mất từ hồi Tấm còn bé, mấy năm sau đó cha Tấm cũng qua đời. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám.

TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM

Mụ dì ghẻ này rất cay nghiệt. Ngày qua ngày bà ta bắt Tấm phải làm hết việc nhà cho đến mọi việc nặng nhọc: hết chăn trâu, cắt cỏ, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo, ban đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó Cám được mẹ nuông chiều, suốt ngày rong chơi, không phải làm việc nặng.

Hôm nọ, bà ta đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng xúc tép, và nói:

- Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ tép thì ta sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ.

Tấm vốn chăm chỉ và quen mò cua bắt ốc nên chỉ một buổi là bắt được đầy giỏ vừa cá, vừa tôm, vừa tép. Cám thì đủng đỉnh lội chơi hết ruộng nọ đến ruộng kia, mãi đến chiều vẫn không được gì, thấy giỏ của Tấm đã đầy, Cám nghĩ ra một kế liền bảo chị:
Truyện cổ tích Tấm Cám: Cám trút hết vỏ tép của Tấm
- Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm bùn hết rồi kìa, chị mau đi hụp cho sâu gội đầu sạch sẽ, kẻo về mẹ mắng.

Tấm thật thà, tin là thật, bèn xuống ao lội ra chỗ sâu tắm gội. Cám thừa dịp trút hết tôm tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng chạy về nhà trước. Tấm gội đầu xong, bước lên bờ thì thấy chỉ còn giỏ không, không dám về nhà vì sợ dì mắng, Tấm ngã quỵ xuống đất ngồi bưng mặt khóc nức nở.

Nghe tiếng khóc của Tấm, Bụt liền hiện lên hỏi:

- Vì sao con khóc?

Tấm kể lại hết sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Thôi con hãy nín đi! Con thử nhìn vào trong giỏ xem còn gì nữa không?

Tấm nhìn vào giỏ rồi nói:

– Dạ chỉ còn một con cá bống.

Bụt dặn dò Tấm:

– Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, con mang cho bống một ít cơm. Mỗi lần cho ăn con nhớ gọi thế này:

"Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người."

Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy!

Nói xong Bụt biến mất. Tấm về nhà làm theo lời dặn của Bụt, thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đem ra cho bống. Mỗi lần nghe Tấm gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp từng hạt cơm mà Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, bống ngày càng lớn lên trông thấy.

Thấy Tấm thường mang cơm ra giếng, mụ dì ghẻ sinh nghi, bèn sai Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây gần bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe. Tối hôm ấy mụ dì ghẻ lấy giọng ngọt ngào bảo với Tấm:

- Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.

Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng, cũng gọi y như Tấm gọi. Bống vừa ngoi lên mặt nước, mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt ăn.

Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang cơm ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khi. Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy một cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có chuyện chẳng lành, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

– Tại sao con lại khóc?

Tấm kể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi! Rồi về nhặt xương nó, kiếm 4 cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới 4 chân giường con nằm.

Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, kêu lên:

– Cục ta cục tác! Cho ta nắm thóc, ta bới xương cho!

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngay. Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào 4 cái lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn.

Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Trên các nẻo đường, già trẻ gái trai trong làng đều nô nức dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:

- Khi nào nhặt riêng gạo và thóc ra hai đấu thì mới được đi xem hội.

Nói đoạn, hai mẹ con Cám xúng xính vận quần áo đẹp lên đường đi trảy hội. Tấm tủi thân òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

- Tại sao con khóc?

Tấm chỉ vào cái thúng, thưa rằng:

- Thưa dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội. Nhưng lúc nhặt xong thì hội đã tan mất rồi, chẳng còn gì để mà xem nữa ạ.

Bụt bảo: "Thôi con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp cho."

- Dạ... nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn hết, thì khi về con sẽ bị đòn mất.

- Con cứ bảo chúng nó thế này:

"Rặt rặt (con chim sẻ) xuống nhặt cho tao
Ăn mất hạt nào thì tao đánh cho
Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu."

Bụt vừa dứt lời, ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một bên, gạo ra một bên. Chúng lăng xăng ríu rít, chỉ trong chốc lát đã nhặt xong, không vơi một hạt nào. Nhưng khi gạo đã nhặt xong, bầy chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại hiện lên bảo:

– Nguyên do vì sao con lại khóc?

– Dạ nhìn con rách rưới quá, sợ rằng người ta không cho con vào xem hội.

– Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ những thứ con cần để con đi trẩy hội.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Tấm đào lọ thứ nhất thấy toàn quần áo đẹp, lọ thứ hai lấy ra được một đôi hài thêu hoa, lọ thứ ba thì thấy có một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuống đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì Tấm lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn.

Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi mặc quần áo mới vào. Trong phút chốc Tấm trở nên xinh đẹp, cưỡi lên lưng ngựa phóng như bay đến kinh thành. Nhưng khi ngựa phi qua một cây cầu đá để vào thành, chiếc hài của Tấm bỗng tuột khỏi chân rơi xuống nước, không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở trong hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giầy còn lại rồi chen vào biển người.

Khi đoàn xa giá chở vua đi đến chân cầu. Hai con voi ngự dẫn đầu đoàn bỗng nhiên cắm ngà xuống đất kêu rống lên, không chịu đi qua cầu. Vua thấy vậy, bèn sai quân lính tìm kiếm xung quanh xem có gì lạ không, quân lính lập tức bủa vây tìm kiếm, phát hiện trên mặt nước có một chiếc hài thiêu hoa, họ liền vớt lên trình cho Vua xem. Vua ngắm nghía chiếc hài hồi lâu không chán và tấm tắc khen: "Chiếc hài này quả thật tinh xảo, lần đầu tiên Trẫm mới nhìn thấy một chiếc hài đẹp sắc xảo đến vậy! Người đi chiếc hài này chắc hẳn phải là trang tuyệt sắc”.

Vua liền truyền lệnh: mời tất cả những người con gái đi xem hội ướm thử hài, hễ ai đi vừa chiếc hài thì sẽ được vua lấy làm vợ.

Đám hội bỗng trở nên náo nhiệt, các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử giầy. Nhưng chẳng có ai đi vừa cả. Mẹ con nhà Cám cũng vào ướm thử hài cầu may, nhưng không tài nào vừa được.

Khi mẹ con Cám vừa bước ra thì gặp Tấm, Cám ghé tai nói nhỏ với mẹ:

– Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử hài đấy!

Mụ dì ghẻ bĩu môi:

– Con nỡm, chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!

Đến lượt Tấm, khi nàng vừa đặt chân vào chiếc hài thì vừa như in. Nàng mở khăn lấy chiếc hài còn lại đi vào, 2 chiếc giống nhau như đúc. Bọn lính hầu vỗ tay hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tuỳ tùng rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên, ganh tỵ và hằn học của mẹ con Cám.

Tấm tuy sống sung sướng trong hoàng cung, nhưng vẫn không quên ngày giỗ cha. Nàng xin phép vua cho về thăm nhà và sửa soạn cỗ cúng cha giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm trở về ngoài mặt thì ra vẻ mừng rỡ nhưng trong bụng lại ghen ghét đố kị, tìm cách hại nàng. Nghĩ ra được kế hay, mụ dì ghẻ bảo Tấm:

Truyện cổ tích Tấm Cám: mẹ con Cám hại Tấm- Cha con rất thích ăn cau têm trầu. Để tỏ lòng hiếu thảo với cha, con hãy trèo lên cây cau sau nhà hái một buồng cau to nhất để cúng cha.

Tấm vâng lời trèo lên cây cau, trèo lên tới sát buồng cau, thì ở dưới đất, mẹ con Cám cầm dao đốn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi:

- Dì làm gì dưới gốc thế?

- Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến để nó khỏi lên đốt con.

Tấm chưa kịp xé buồng cau, thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội lấy quần áo của Tấm mặc cho Cám và đưa Cám vào cung thay Tấm chăm sóc nhà vua. Vua nghe vậy trong bụng không vui, nhưng không nói lời nào.

Tấm chết hóa thành chim Vàng Anh bay về cung, thấy Cám đang giặt quần áo cho vua. Vàng Anh hót:

- Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.

Rồi chim Vàng Anh bay thẳng vào cung hót ríu rít rất vui tai. Vua đi đâu chim bay theo đó. Từ ngày Tấm mất, nhà Vua buồn lắm, lúc nào cũng nhớ đến Tấm. Thấy chim vàng anh quyến luyến theo mình không rời, vua thấy lạ bèn bảo:

- Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.

Chim vàng anh lập tức bay lại đậu vào tay vua, rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý vàng anh đến quên ăn quên ngủ... Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không đoái hoài gì đến Cám.

Cám ghen tị với chim Vàng Anh vội về mách mẹ. Mẹ Cám xui Cám cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vua. Trở về cung vua, Cám làm theo lời mẹ, nhân lúc Vua đi vắng, Cám bắt chim làm thịt nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn.

Thấy mất Vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:

- Trong lúc bệ hạ đi vắng, Vàng Anh đã bị mèo vồ bắt mất rồi.

Vua nghe xong, không nói gì cả. Lặng người đi vì buồn.

Nơi vứt lông chim vàng anh bỗng mọc lên hai cây xoan đào, cành lá tươi tốt. Khi vua đi dạo vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, như hai cái lọng. Vua thấy cây rợp bóng mát, liền sai lính hầu mắc võng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lại. Kể từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát dưới hai cây xoan đào.

Cám biết chuyện, lại ghen tị với 2 cây xoan đào chạy về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi lại kiếm điều dối vua. Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:

- Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.

Nhưng khi khung cửi đóng xong. Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình:

"Cót ca cót két
Tranh lấy chồng chị.
Chị khoét mắt ra"

Thấy vậy Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm. Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nói. Nó đem tro đã đốt đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung.

Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát tỏa ra khắp nơi. Bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc cây, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bà bèn giơ bị ra mà rằng:

Tấm Cám: thị ơi thị rơi bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn– Thị ơi, thị à, thị rơi bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn.

Bà lão vừa nói dứt lời, quả thị rụng ngay vào bị bà. Bà lão nâng niu quả thị đem về nhà cất trong buồng, thỉnh thoảng lại vào ngắm nhìn và ngửi mùi thơm.

Ngày nào bà lão cũng đi chợ sớm. Từ trong quả thị bỗng có một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay bước ra, nhưng chỉ trong chớp mắt nàng đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà lão hàng nước. Khi nghe thấy tiếng bà lão đi chợ về, Tấm lại thu mình bé nhỏ lại, rồi chui vào quả thị.

Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ lắm.

Một hôm bà lão giả vờ đi chợ, nhưng đến nửa đường lại lén quay về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong lúc đó, Tấm từ quả thị bước ra rồi cũng làm việc như mọi ngày. Bà lão rón rén, bước lại nhìn vào khe cửa. Khi thấy cô gái xinh đẹp từ trong quả thị bước ra đang dọn dẹp nhà cửa thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm và xé vụn vỏ thị.

Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương yêu nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.

Một hôm vua xuất hành ra khỏi hoàng cung, Thấy có quán nước bên đường sạch sẽ, bèn ghé vào. Bà lão mang trầu, nước dâng lên vua. Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền hỏi:

- Trầu này ai têm?

- Trầu này con gái lão têm - bà lão đáp.

- Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.

Bà lão gọi Tấm ra. Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưa. Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi ra lệnh truyền cho quân hầu lập tức đưa kiệu rước Tấm về cung. Nhớ ơn bà lão hàng nước, vua cho đón cả bà vào cung để phụng dưỡng.

Mẹ con Cám thấy Tấm trở về được vua yêu thương như xưa, thì nó không khỏi sợ hãi. Hôm nọ, Cám bèn lân la gặp Tấm hỏi thăm dò:

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Chị làm thế nào mà đẹp thế?

Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:

– Có muốn đẹp không để chị giúp!

Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám lăn ra chết tươi. Tấm sai đem xác Cám làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Ngày nọ, có một con quạ đen ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà mụ kêu rằng:

– Ngon ngỏn ngòn ngon! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng!

Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu của con gái mình thì kinh hãi lăn đùng ra chết.

Tổng hợp và biên soạn: Thiên Hương

HỒI KẾT TẤM CÁM GÂY NHIỀU TRANH CÃI:

Đây là bản gốc truyện cổ tích Tấm Cám, mình vẫn giữ tình tiết Truyện nguyên bản. Chỉ điều chỉnh câu từ trong truyện lại theo văn phong của mình, mục đích để bạn đọc cảm nhận một cách sâu sắc nhất diễn biến cốt Truyện.

Ở hồi kết, có người cho rằng bản gốc này dã man quá, nên đã có phiên bản "Truyện cổ tích Tấm Cám bản mới" sửa lại nội dung hồi kết thay vì mẹ con Cám phải nhận lãnh cái chết bi thảm thành: mẹ con nhà Cám sợ hãi, xấu hổ quá nên trốn đi biệt tích.

Lại có ý kiến cho rằng: "không hiểu rằng ngày xưa các cụ nhà ta, muốn chia sẻ gửi gắm cho chúng ta điều gì mà lại cho kết truyện Tấm cám nguyên bản ÁC DÃ MAN đến vậy?"

Khi đọc xong hồi kết truyện nguyên bản, không ít ý kiến trái chiều cho rằng cô Tấm có lòng dạ quá ác độc, dã man khi trả thù 2 mẹ con nhà Cám như thế???

Cá nhân mình nhận thấy: Trước đây, khi Tấm bị mẹ con nhà Cám ức hiếp, hà khắc, thậm chí đối xử thậm tệ hết lần này đến lần khác: mụ dì ghẻ bắt Tấm làm lụng nhiều việc nặng nhọc từ sáng đến tối, từ tối đến khuya vẫn chưa hết việc. Mụ trộn thóc lẫn gạo bắt Tấm lượm cả ngày để không kịp đi trẩy hội. Niềm vui duy nhất của Tấm khi đó là Bống, mụ dì ghẻ và Cám cũng nhẫn tâm giết Bống ăn thịt mà không chút thương xót... Nhưng mọi việc đó Tấm không mảy may ghi nhớ trong lòng, đều bỏ qua tất cả. Chứng tỏ sau khi làm vợ Vua, Tấm vẫn xin Vua cho về quê nhà phụ dì soạn cỗ cúng giỗ cha. Cũng bởi do tâm tính Tấm quá hiền lành, tốt bụng, còn nghe lời mụ trèo cây hái cau cúng giỗ cho cha, mới bị mụ ta hại mà chết.

Mẹ con nhà Cám ban đầu chỉ vì lòng dạ hẹp hòi, nhỏ nhen, sanh tâm đố kỵ với Tấm nên mới tìm mọi cách ức hiếp hà khắc cô. Nhưng tất cả những điều đó Tấm đều bỏ qua, không ghi nhớ đến, lại còn đối xử tốt với mụ ta. Chính từ lẽ đó, mới biến mụ ta trở thành kẻ hiểm độc, lòng lang dạ sói, giết người không gớm tay. Cám do ngày đêm kề cận, nên cũng tiêm nhiễm luôn thói độc ác, nham hiểm của mẹ nó.

Do đó, lòng tốt nên có giới hạn, việc nhỏ không răn, ắt hư việc lớn.

KẺ XẤU KHÔNG RĂN không sớm thì muộn cũng sẽ trở thành kẻ ĐẠI ÁC.

QUÁ TAM BA BẬN, TRỜI KHÔNG DUNG

Sau khi Tấm trèo cây cau bị mẹ con nhà Cám đốn cây mà chết. Đó là lần thứ nhất Tấm bị hại chết.

Khi Tấm từ kiếp người hoá thành kiếp chim Vàng Anh, lại tiếp tục bị mẹ con Cám giết chết. Đây là lần thứ 2 Tấm bị giết chết.

Tấm lại hoá kiếp thành Cây xoan đào, lại vẫn bị mẹ con nhà Cám lén sai người chặt cây mà chết. Đây là lần thứ 3 Tấm lại bị hại chết.

Tấm lại tiếp tục hoá thân thành Khung cửi, và lần này Tấm vẫn lại tiếp tục bị mẹ con nhà Cám hoả thiêu mà chết. Đây là lần thứ 4 Tấm bị bức chết.

Quy luật tự nhiên: LÀM XẤU PHẢI CHỊU PHẠT - GIẾT NGƯỜI PHẢI ĐỀN MẠNG!!!

Chúng ta đọc xong phần kết truyện, vội cho rằng Tấm quá dã man, độc ác! Nhưng có ai hiểu rằng Tấm đã bị mẹ con mụ dì ghẻ hại chết không chỉ một lần, mà đã chết tới 4 lần chưa???

Nhất quá tam: phàm ở đời, việc gì cũng không nên quá nhiều lần. Nhiều lắm là 3 lần trở lại. Tha thứ kẻ lầm lỗi, chỉ nên tha ba lần. Nhưng nên nhớ riêng với sinh mạng, mỗi người chỉ có duy nhất một cái mạng mà thôi.

Ở đời thực, chúng ta chẳng có nhiều mạng như trong truyện để mà chết đâu. Tôi xin hỏi, với những ai cho rằng Tấm hành xử như vậy là quá dã man và độc ác. Nếu là bạn, khi chẳng may cha bạn, mẹ bạn, chị bạn, em bạn bị người khác bức chết, hại chết, bạn có nhất định nợ máu trả máu, quyết sống chết tìm kẻ đó trả thù hay không???

Đừng nói với tôi rằng sẽ không, vì chỉ có 3 nguyên nhân:

- Bạn không thương người đã mất
- Bạn không có trái tim
- Bạn quá hèn nhát

Nào là "Oan oan tương báo bao giờ mới dứt" điều này chỉ đúng khi cái ác đó không tổn hại đến sinh mạng kìa.

Còn "Nợ máu nhất định phải trả bằng máu". Nếu không nỗi ám ảnh đó hằng đêm làm sao có thể nguôi được?

"Quân tử báo thù mười năm chưa muộn". Có người hỏi rằng: đã là quân tử thì tại sao lại báo thù? Chuyện báo thù của người quân tử chính là được ví trong trường hợp này, khi nó mang "đẫm nợ máu". Nên nhớ làm người nên Ân oán phân minh, ai có ơn đời đời ghi nhớ, ai gây oán "nợ máu không đội trời chung".

LUẬN VIỆC TU HÀNH,

Thái tử Tất đạt đa là một người rất từ bi, và có tấm lòng yêu thương đối với tất cả chúng sinh. Nhưng người anh họ của ông là vương tử Devadatta lại là một người có tâm địa độc ác, hẹp hòi, đã rất nhiều lần muốn ám hại thái tử. May mắn là những lần ấy Thái tử đều thoát được nguy hiểm, nhưng cũng chính vì sự tha thứ nhân nhượng hết lần này đến lần khác của ông mà không biết bao nhiêu người vô tội đã bị Devadatta hại chết. Chỉ đến lúc sắp chết thì Devadatta mới nhận ra tội ác của mình.

Điều tôi muốn nói ở đây chính là: lòng Từ bi của chúng ta nếu đặt sai người, sai chỗ thì chẳng khác nào vô tình chúng ta đã tiếp tay cho cái ác làm hại đến sinh mạng của kẻ khác. Trên đời này cũng sẽ có người như Devadatta, cho đến chết mới hối hận về việc làm của mình. Nhưng sự hối hận này đã quá muộn, nó không thể giúp cho những người bị hắn ta hại chết - sống lại được.

Tâm từ bi, là sẳn sàng tha thứ bỏ qua những lỗi lầm - khi những lỗi sai đó không gây tổn hại đến sinh mạng kẻ khác kìa. Còn đối với những kẻ thủ ác, lòng lang dạ sói, lúc nào cũng khát máu tươi, nhăm nhe uống máu đồng loại, lúc nào cũng thủ sẳn dao nhọn, chực chờ khi ta yếu thế, sơ hở để đâm ta một nhát chí mạng. Nếu ta tốt với những kẻ đó, chẳng khác nào đang đùa giỡn với sinh mạng chính mình, đồng loại mình. Tha mạng cho kẻ giết người, chính là đang tiếp tay cho nó giết thêm nhiều sinh linh khác.

Quay lại câu chuyện, Tấm đổ nước sôi giết, rồi làm mắm con Cám thực ra hành động này đúng là có dã man, có tàn ác. Nhưng, so với việc Tấm bị mẹ con Cám hại chết từ kiếp người, đến kiếp chim, kiếp cây, rồi kiếp đồ vật... hại đến thân xác Tấm bị đốt tan thành tro bụi. Thì cái kết của Mẹ con Cám bị như vậy là đáng lắm!!!

Cái ác cần phải diệt, ko thể dung dưỡng, dung dưỡng là tiếp tay cho nó!!!

Gặp Phật thì Tu! Gặp giặc phải đánh!

GIẶC ở đây chính là những kẻ không bằng loài cầm thú này.

Tóm lại, điều mà ông bà ta muốn gửi gắm qua câu chuyện này chính là: ở hiền thôi chưa đủ, đôi khi chưa chắc gặp lành nếu tốt nhầm kẻ xấu. Muốn tốt, cần phải Tốt đúng người, đúng việc. Thấy xấu phải răn, thấy sai phải sửa, thấy bất công phải lên tiếng, im lặng là tiếp tay cho nó lộng hành, giúp cho cái XẤU biến thành ÁC. Bụt cũng giống như người tốt, họ chỉ giúp ta được không quá đôi ba lần. Bụt chỉ giúp ta thoát cảnh bần cùng, nghèo khó nhưng không thể cứu mạng ta khi có hiểm nguy trước mắt, cũng không giúp ta tiêu diệt kẻ ác. Không ai khác chính bản thân chúng ta phải làm điều đó, phải biết tự bảo vệ chính mình, muốn giữ lấy hạnh phúc cho cuộc sống của mình thì hãy hành động, đừng chỉ biết ngồi đó khóc lóc và trông cậy vào ai đó đến giúp đỡ.

Lòng tốt nên có giới hạn, đối với cái ÁC cần phải DIỆT!!!


0 nhận xét:

Post a Comment