Pages

Phát hiện trẻ bị xâm hại, bạo hành gọi ngay 111

Khi chúng ta phát hiện trẻ có dấu hiệu bị bạo hành, bị ngược đãi, xâm hại hoặc bị bóc lột, bắt cóc, mua bán trẻ em... xin hãy gọi ngay đến số 111

Tệ nạn Xã Hội: là báo ứng, con cháu nhờ vào Đức ông bà cha mẹ

Mưu tài hại mạng: phải đánh đổi bằng sinh mạng

Trạng Quỳnh: Món "mầm đá" và món "đại phong"

Nhà Vua quanh năm ăn toàn sơn hào, hải vị. Ăn toàn của ngon vật lạ lâu ngày nên đâm ra kén ăn, khó tính. Một hôm Vua khó ở, lưỡi se đắng, bụng ậm ạch, ăn gì cũng nhạt miệng không thấy ngon nữa.

Quỳnh vào chầu, Vua bảo:

- Trẫm ăn đủ của ngon vật lạ, không còn thứ gì quý hiếm trên đời này mà Trẫm chưa được thưởng thức. Quái lạ, thế mà vẫn chưa có món nào làm ta thực sự thấy ngon miệng. Điều đó là tại làm sao, Trạng nói ta hay?

Trạng Quỳnh thết đãi Vua món "Mầm đá" và "Đại phong"

Quỳnh nói luôn: - Tâu bệ hạ, thế bệ hạ đã xơi mầm đá bao giờ chưa ạ?

Trạng Quỳnh: Món "mầm đá" và món "đại phong"Vua lấy làm lạ: - Món mầm đá à, có ngon lắm không?

Quỳnh đáp: - Dạ, là cực phẩm nhân gian hiếm có. Nhưng muốn ăn mầm đá phải kỳ công.

Vua liền nằng nặc: - Sợ gì công phu! Miễn là được ăn ngon. Nhất là lúc này, trẫm đang mệt mỏi, đang rất cần ăn biết ngon. Trạng hãy mau chóng cho làm móm mầm đá kia đi!

Ngày hôm sau, vào tờ mờ sáng. Quỳnh viết thiếp cho gia nhân mời vua đến nhà thiết đãi tiệc mầm đá. Trời mới rạng sáng nhà Vua lập tức đến nhà Trạng Quỳnh.

Đến khi mặt trời đứng bóng, vẫn thấy Quỳnh hì hục bận rộn dưới bếp, thỉnh thoảnh chạy ra, chạy vào, mồ hôi nhể nhại, khăn tay vắt vai, tay áo xắn đến khuỷu... tất tưởi chăm củi lửa.

Vua nghĩ thầm: "Đúng là món mầm đá kỳ công thật!"

Quá giờ Ngọ, sang Mùi, bụng vua bắt đầu cồn cào. Quỳnh vừa ló mặt, vua chép miệng, trách: - Sao món "mầm đá" lâu chín thế?

Quỳnh lấy khăn tay thấm mồ hôi trán tâu rằng: - Thần muốn bệ hạ ngon miệng nên mới dụng công ninh "mầm đá" thật công phu. Xin gắng đợi chút nữa, sắp chín rồi...

Một chốc sau Vua lại giục, Quỳnh lại khẩn khoản thưa: "Gắng đợi thêm một chút mầm đá không kỹ lửa, không ninh nhừ ăn khó tiêu..."

Mặt trời xế bóng vẫn chưa thấy món mầm đá được dọn ra. Mùi cá khô, lẫn mùi khói bếp bữa cơm chiều của những nhà hàng xóm cạnh bên, làm bụng Vua "sôi lên sùng sục". Nhà vua đành gọi Quỳnh lên, vua ngồi lù đù hóp bụng lại, thú thật: "Ta đói lắm rồi, không đợi được nữa. Mầm đá để dành ăn sau cũng được. Bây giờ có thức gì dùng tạm, Trạng cứ cho mang lên!"

Quỳnh dạ một tiếng, vẻ miễn cưỡng rồi hét vọng xuống bếp: - Cứ chất thêm củi vào nồi "mầm đá"! Hãy bưng cơm lên dâng bệ hạ dùng cho qua bữa đã! Gia nhân dạ ran, rồi bê cái mâm lên.

Trên mâm, có một bát cơm với dĩa rau muống luộc, và một chiếc hũ sành. Vua thấy ngoài chiếc hũ có dán mảnh giấy hồng đề hai chữ "đại phong". Vua ăn cơm rau chấm nước "đại phong" ngon lành, chỉ một loáng lại đưa bát cho Trạng xới tiếp. Vua nghĩ bụng, chắc món này cũng quý hiếm đặc biệt, nên thấy Trạng giữ gìn chiếc hũ cẩn thận. Có lần rau đã hết nước chấm, mãi mới thấy Trạng cẩn thận đỡ miệng hũ, múc thêm mấy muôi nhỏ "đại phong" nữa... Vua ngắm nghía chiếc hũ lại nhìn Trạng:

- Này khanh, "đại phong" là món gì mà ngon lạ như vậy?

– Bẩm, đây chỉ là món thường ngày của con dân trong làng.

- Là gì, nói lên cho ta biết?

- Bẩm là tương ạ! 

Vua không tin bèn hỏi: "Đại phong" là nghĩa thế nào?

Quỳnh tủm tỉm cười: - Bẩm Ðại phong là gió lớn, gió lớn ắt đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo, tượng lo là lọ tương.

Vua cười nói: - Lâu nay ta không ăn, quên mất cả vị, sao lại ngon thế?

Tâu bệ hạ, quả không sai, thứ tương đỗ này là chỉ là món ăn của dân nghèo xoàng xĩnh. Sở dĩ bệ hạ thấy ngon miệng bởi lúc ta đói thì ăn gì cũng thấy ngon, còn khi no dù ăn bao nhiêu sơn hào hải vị cũng không thấy vừa miệng.

Nhà Vua như bừng tỉnh... Liền đứng dậy, cảm ơn Trạng, rồi ra về.

Sưu tập và kể lại: Thiên Hương

Truyện Trạng Quỳnh: Ăn trộm mèo của Vua

Nhà vua có nuôi một con mèo quý, được xích bằng xích vàng và cho ăn toàn cao lương mỹ vị.

Trạng Quỳnh ăn trộm mèo Vua

Trạng Quỳnh thấy vậy nhân dịp vào chầu, liền bắt trộm về. Quỳnh cất xích vàng đi mà thay vào buộc bằng dây vải, buộc lại 1 góc, đến bữa thì để hai bát cơm: một bát đầy thịt cá, một bát chỉ có rau trộn đầu tép. Do quen ăn ngon sung sướng nên mèo chạy ngay đến bát cơm có thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ chạy lại ăn bát thịt cá thì lập tức vung roi đánh. Cho đến khi quá đói, mèo ta đành phải chạy sang ăn bát cơm rau trộn đầu tép. Cứ như thế, được hơn nữa tháng, mèo thành quen, không bao giờ dám bén mảng đến bát thịt cá ăn nữa mới thả ra.

Truyện Trạng Quỳnh Ăn trộm mèo của VuaVua mất mèo quý, thương tiếc, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con giống hệt mèo Vua. Vua cho đòi Trạng Quỳnh đem mèo vào chầu. Vua nhìn thấy mèo, liền hỏi:

- Sao nó giống mèo của trẫm thế? Hay khanh thấy mèo của trẫm đẹp nên bắt đem về, hãy nói cho thật!

- Tâu bệ hạ, bệ hạ nghi cho hạ thần bắt trộm, thật là oan, cúi xin bệ hạ cho thử thì biết.

- Khanh muốn thử thế nào? Nói cho trẫm nghe.

- Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ phú quý thì cho mèo ăn thịt ăn cá, sơn hào hải vị... còn hạ thần nghèo khó thì ngày ngày chỉ cho mèo ăn cơm rau với đầu tép. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì biết ngay.

Vua sai đem ra thử. Mèo liền chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch.

Quỳnh nói:

- Xin bệ hạ lượng cho, người ta phú quý thì ăn cao lương mỹ vị, bần hàn thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo chủ.

Nói xong lạy tạ đem mèo về.

Kể lại: Thiên Hương

Trạng Quỳnh: Dê đực chửa | Truyện dân gian

Vua muốn tìm kiếm người tài, bèn truyền lệnh: "mỗi làng phải tiến vua một con dê đực chửa". Hạn trong một tháng, nếu không có nộp thì sẽ trị tội cả làng.

Trạng Quỳnh: Dê đực chửa

Cáo thị về đến làng, hương cả chức sắc trong làng đều lo sốt vó, dân làng ai nấy đều cuống cuồng sợ hãi. Thử hỏi từ xưa đến nay có ai nói đến cái chuyện lạ lùng ấy đâu!? Dê đực làm sao có chửa được? Biết tìm ở đâu ra dê đực chửa bây giờ???
Trạng Quỳnh: Dê đực chửa

Thấy bố buồn rầu, dáng vẻ thiểu não đi về nhà Quỳnh hỏi:

- Thầy có việc gì mà trông buồn rầu thế?

Bố Quỳnh bèn kể lại mọi chuyện, Quỳnh nghe xong, thưa:

- Con tưởng việc gì, chứ việc ấy thì thầy không phải lo. Nhà vua chỉ bắt nộp mỗi một con thì có khó gì, cho dù bắt nộp mười con cũng có. Xin thầy cứ ra nhận lời với làng, bảo dân làng chuẩn bị cho con một trăm quan tiền, con sẽ đi kiếm dê đực chữa cho làng. Không thì mình sẽ chịu tội cho cả làng.

Nghe Quỳnh nói vậy, ông bố bán tín bán nghi, nhưng nghĩ đi nghĩ lại không còn cách nào khác đành làm theo yêu cầu của Quỳnh. Bèn đánh liều ra thưa lại với làng, và làm tờ cam kết. Sau đó đem tiền về cho Quỳnh.

Sáng sớm hôm sau, hai cha con Quỳnh khăn gói lên kinh thành mua dê. Ðến nơi, Quỳnh nói với bố dò la xem hôm nào vua đi tuần hành. Hôm đó, Quỳnh dậy thật sớm, lén xuống dưới cổng cửa Ðông nằm chực. Khi xa giá nhà vua đến gần, Quỳnh khóc rống lên. Vua nghe tiếng trẻ con khóc nức nở bèn lấy làm lạ, sai lính tìm Quỳnh lại hỏi rõ nguyên do. Quỳnh giả vờ không biết là nhà vua, càng gào to, kể lể:

- Thưa ông, mẹ tôi chết đã ba năm nay, tôi nói mãi mà bố tôi không chịu đẻ em bé cho tôi bế…

Vua nghe xong, bật cười bảo rằng:

- Thằng bé này quả thật ngốc nghếch! Ba mày là đàn ông, trên đời này làm gì có chuyện đàn ông đẻ bao giờ.

Chỉ đợi vua nói vậy, Quỳnh liền nín ngay, rồi đứng chắp hai tay lại, nói thật trang nghiêm:

- Vậy mà nhà vua bắt dân làng tôi phải nộp dê đực chửa. Nếu dê đực chửa được thì chắc bố tôi cũng đẻ được. Có đúng không thưa ông!?

Nghe Quỳnh nói vậy, nhà vua giật mình, biết rằng Quỳnh bày kế. Vua khoái chí cười to, sau đó còn thưởng tiền cho Quỳnh và ban lệnh cho làng không phải cống dê đực chửa nữa.

Kể lại: Thiên Hương

Đi trắng, về đen

Đi trắng, về đen
Một hôm trời nắng Quỳnh đi chơi. Khi ở nhà đi, thì mặc áo trắng, đi được nửa đường, gặp trời mưa, quần áo ướt hết, mới vào trú mưa ở nhà bà con gần đó. Người họ hàng thấy Quỳnh ướt cả nên cho mượn cái áo thâm.

Một lúc sau trời mưa tạnh, Quỳnh mặc áo thâm về nhà. Con chó trông thấy, vừa cắn vừa xua đuổi. Quỳnh giận toan cầm gậy đánh. Anh Quỳnh từ trong nhà chạy ra bảo:

"Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng nhà ta, lúc đi thì trắng, lúc về thì đen, thì em có không lấy làm lạ mà không ngờ được không?"

Sưu tập và hệ thống: Thiên Hương

Lời bàn:

Lúc đi mặc áo trắng, lúc về mặc áo đen, con chó thấy khác thì xua đuổi. Lỗi tại mình thay đổi chứ không phải tại con chó cắn xằng. Vậy nên ở đời khi mình làm điều gì khác thường, mà người ta không rõ, thì tất nhiên người ta bàn trái bàn phải. Nếu mình không tự xét mình thay đổi hay dở, chỉ biết trách người nghị luận nọ kia, thì chẳng khác nào như người đánh chó trong truyện này.

Khổng tử: Không quên được cái cũ

Khổng Tử tên là Khâu, tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cỗ, đi nhiều nước chư hầu không được dụng bỏ về làm kinh Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy mươi hai người giỏi. Được tôn xưng làm Tổ đạo Nho.
Khổng tử: Không quên được cái cũ

Một ngày nọ Khổng Tử đang đi dạo chơi, bỗng thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ non ở chỗ bờ đầm. Đức Khổng Tử lấy làm lạ, bảo học trò đến hỏi vì cớ gì mà khóc.

Người đàn bà nói: "Độ trước tôi cắt cỏ thi, có bện một chiếc trâm cài đầu bằng cỏ thi. Hôm nay chẳng may đánh mất cái trâm cài đầu xuống đầm, cho nên tôi khóc."

- Đức Khổng Tử hỏi: "Cô chỉ làm mất cái trâm cài bằng cỏ, thì việc gì phải khóc? Sao không lấy cỏ thi mà làm một cái trâm cài mới!?"

- Người đàn bà nói: "Tôi có thể làm lại một cái mới. Sở dĩ tôi khóc, không phải vì tôi đánh mất cái trâm cỏ thi mà là tôi thương tiếc một vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay không sao thấy được nữa."

Sưu tập và hệ thống: Thiên Hương

Chú thích:

Cỏ thi: là một thứ cỏ giống như cỏ le, thân tròn, ruột vuông, lá nhỏ mà dài, cạnh sắc, hoa tựa như hoa cúc, trắng hay đỏ phớt.

Lời bàn:

Một món đồ mà mình đã yêu thích, mà lỡ mất đi, thì về sau dù có được cái khác giống như thế, mình cũng không sao yêu cho bằng. Thường, lại nhìn thấy cái mới mà hồi nhớ về cái cũ, sinh ra chạnh lòng, nên câu ta thán, có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Vì sao vậy? Vì đối với mình, cái của mất đi có khi không phải vì giá trị vật chất, mà đó thường chứa đựng trong đó tình cảm tức phần tâm hồn mình hay tâm hồn người đã tặng vật cho mình.

"Đồ vật tuy vô tri vô giác, nhưng con người thì có tình"

Sự cảm động đầu tiên bao giờ cũng là sự cảm động hay nhất, lâu bền nhất. Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở mình. 

"Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi": Con ngựa rợ Hồ thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên được nguồn gốc sao?!

Mạnh Thường Quân mua "Nghĩa"

Chúng ta vẫn thường gọi những nhà tài trợ hảo tâm, từ thiện là “Mạnh Thường Quân”. Tuy nhiên nguồn gốc của nó thì không phải ai cũng hiểu rõ. Bạn đã bao giờ tự hỏi danh từ ấy xuất phát từ đâu? 

Mạnh Thường Quân là ai?

Mạnh Thường Quân tên thật là Điền Văn, con trai của Tướng quốc Điền Anh, người nước Tề thời Chiến Quốc. Sau khi thân phụ qua đời, ông cũng được phong làm Tướng quốc, ăn lộc ở đất Tiết.
Mạnh Thường Quân mua "Nghĩa"

Mạnh Thường Quân nhà rất giàu có, cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Hoan đi lấy nợ lãi ở ấp Tiết. Phùng Hoan bình thường không có tài gì nổi bật nhưng vốn tính trung hậu, đáng tin. Trước khi đi, Phùng Hoan hỏi:

- Tiền nợ thu về ngài có định mua thêm gì về không?

Mạnh Thường Quân nói:

- Ngươi xem trong nhà ta còn thiếu thứ gì thì cứ mua về.

Phùng Hoan đến nơi, thấy những người mắc nợ Mạnh Thường Quân hầu hết đều là những nông dân bần cùng khốn khó. Ông bèn cho gọi dân làng ấp Tiết đến và bố cáo rằng: “Mạnh Thường Quân cho vay nợ không phải vì lợi lộc mà muốn để mọi người có vốn mưu sinh, lập nghiệp. Nay người có tiền đã lập văn tự hứa trả còn người nghèo khổ không thể trả thì miễn cho!”. Nói xong, ông ra lệnh đốt sạch văn tự ghi nợ. Dân làng nghe xong đều quì sụp xuống lạy tạ, tôn Mạnh Thường Quân như cha mẹ tái sinh.

Lúc về đến, Mạnh Thường Quân hỏi Phùng Hoan có mua được gì không, Phùng Hoan thưa rằng: 

- Nhà tướng công tiền tài, châu báu đầy kho, chó ngựa đầy chuồng, mỹ nữ đầy nhà, không còn thiếu thứ gì nữa. Chỉ còn thiếu một chữ ″Nghĩa″, tôi trộm phép vì tướng công đã mua được về.

Mạnh Thường Quân nghe Phùng Hoan thuật lại mọi chuyện trong bụng không được vui, nhưng việc đã rồi nên đành bỏ qua, không hỏi gì đến nữa.

Về sau, Mạnh Thường Quân bị Tề Vương phế truất tước vị, cho lui về ấp Tiết sinh sống. Lúc này, các môn khách của Mạnh Thường Quân kết giao trước nay cũng dần tản mát đi cả. Chỉ có Phùng Hoan vẫn ở lại bên cạnh. 

Người dân ấp Tiết nghe tin Mạnh Thường Quân về đến, già trẻ lớn bé không quản ngại, lặn lội kéo ra đứng suốt 10 dặm đường để đón Mạnh Thường Quân, lại còn dâng cơm rượu, chúc tụng, nhắc đến chuyện ân nghĩa năm xưa. Lúc này Mạnh Thường Quân mới hiểu được cái giá của chữ "Nghĩa" mà Phùng Hoan khi xưa đã mua về cho ông, trong lòng hết mực cảm kích Phùng Hoan. 

Sưu tập và hệ thống: Thiên Hương

*Chú Thích:

Phùng Hoan: vốn là một trong những môn khách thường hay lui tới ở nhà Mạnh Thường Quân, được Thường Quân tiếp đãi rất hậu nên trong lòng rất cảm kích, khi Mạnh Thường Quân bị bãi quan về, cũng nhờ có Phùng Hoan mà ông được phục chức.

Tiết: Tên một nước nhỏ thời Chiến Quốc, sau bị nước Hồ lấy mất, nay là Huyện Đằng, tỉnh Sơn Đông.

**Lời Bàn:

Của là trọng, mà nghĩa lại đáng trọng hơn. Vì của có thể hết, chứ nghĩa thì còn mãi mãi. Người ta ở đời, lúc đã giàu có, thường cứ hay vơ vét tham gian, cứ tưởng rằng như thế là được lâu dài bền chặt. Nhưng ta nên hiểu cái lẽ "Tài vi oán thủ" nghĩa là của là cái kho oán, lắm khi chỉ vì lắm của mà gây nên những chuyện làm cho thiên hạ bất bình, ghét bỏ, thù oán ghen hờn, cho nên người ta lúc giàu có, cũng nên ăn ở làm sao để "mua" lấy được chữ "Nghĩa" để phòng khi suy biến, về sau còn có chốn nương nhờ. Việc nghĩa tức là việc phải, việc nghĩa tức là việc từ thiện. Việc nghĩa tức là việc ích lợi chung, việc nghĩa tức là việc công bằng, ơn đức, chỉ có nghĩa để thấm lòng người và làm cho người nhớ dai mà thôi.