Pages

Phát hiện trẻ bị xâm hại, bạo hành gọi ngay 111

Khi chúng ta phát hiện trẻ có dấu hiệu bị bạo hành, bị ngược đãi, xâm hại hoặc bị bóc lột, bắt cóc, mua bán trẻ em... xin hãy gọi ngay đến số 111

Tệ nạn Xã Hội: là báo ứng, con cháu nhờ vào Đức ông bà cha mẹ

Mưu tài hại mạng: phải đánh đổi bằng sinh mạng

Showing posts with label truyện dân gian. Show all posts
Showing posts with label truyện dân gian. Show all posts

Vợ Xấu

Hứa Doãn thời Đông Tấn cưới con gái của Nguyễn Đức Uý làm vợ. Đêm động phòng hoa chúc, Hứa Doãn phát hiện cô gái nhà họ Nguyễn này dung mạo xấu xí liền vội bỏ chạy ra khỏi phòng, từ đó không chịu vào.

Về sau người bạn của Hứa Doãn là Hoàn Phạm đến thăm, nói với Hứa Doãn rằng: “Nhà họ Nguyễn đã gả cô con gái xấu xí cho anh tất có nguyên nhân, anh nên tìm hiểu thử xem”.

Hứa Doãn nghe theo lời Hoàn Phạm vào phòng. Hứa Doãn vừa nhìn thấy dung mạo xấu xí của vợ định bước ra. Người vợ níu lại. Hứa Doãn vừa vùng vẫy vừa hỏi người vợ rằng: “Đàn bà có ‘tứ đức’, nàng được mấy đức?” (‘Tứ đức’ của phụ nữ là đức: công, dung, ngôn, hạnh).
Vợ Xấu: Công - Dung - Ngôn - Hạnh
Người vợ đáp rằng: “Thiếp đây chỉ kém có "dung" mà thôi. Rồi liền hỏi:

- Kẻ sĩ có ‘bách hạnh’, dám hỏi chàng được mấy hạnh?

Hứa Doãn đáp rằng: “Ta đây đủ cả bách hạnh”.

Nguyễn Thị nói: “Bách hạnh lấy "Đức" làm đầu, chàng là người hiếu sắc, không hiếu đức, sao lại bảo là có đủ bách hạnh được?”

Hứa Doãn nghe nói, lấy làm thẹn, thấy Nguyễn Thị có kiến thức sâu rộng và phẩm chất mà người phụ nữ bình thường không có được. Từ đó hai vợ chồng bèn yêu mến, kính trọng nhau suốt đời.

Lời bàn:

Cổ nhân ca ngợi phụ nữ có khí chất bao gồm: Nghi thái (lễ tiết), ngữ thái (giọng điệu lời nói), tình thái (biểu đạt tình cảm), khí thái (tính cách), tâm thái (biểu hiện nội tâm), và thần thái (hàm dưỡng tinh thần), sau đó mới đến tư thái (dáng dấp dung mạo).

Sức hút của người phụ nữ thì 7 phần ở tinh thần 3 phần mới nằm ở dung mạo. Khi khí chất toát ra từ bên trong, thì vẻ đẹp này sẽ lâu dài hơn, lôi cuốn hơn, và sẽ không mất đi theo thời gian mà càng lúc càng được bồi đắp. Người phụ nữ mà từng lời nói cử chỉ hành động đều mang theo một khí chất riêng, thì sẽ khiến người ta yêu thích và trân trọng.

Sắc đẹp có thể phai tàn theo thời gian nhưng phẩm hạnh và tài trí thì sẽ luôn có thể được bồi đắp và mãi trường tồn. Một người đàn ông thông thái, có nội hàm tu dưỡng và cái nhìn sâu sắc thì tất nhiên sẽ chọn cái đẹp vĩnh cửu, một người vợ thông minh khéo léo giúp họ làm nên đại sự chứ không phải là “một bình hoa di động”.

Khi cưới được một người vợ như vậy thì cũng đồng nghĩa họ có một trợ thủ đắc lực trong sự nghiệp, và một tách trà thơm thanh khiết thưởng thức mãi không biết chán.

Có chịu lo, chịu làm mới sống được

Ở đời chết vì thuốc độc, muôn người họa mới phải một người, chớ chết vì ăn không, ngồi rồi thì thật nhiều. Cái độc “ăn không ngồi rồi” rất thảm rất hại. Nay ta hãy xem một vài sự đáng sợ để thí dụ mà nghe.

Xe đi trên mặt đất, đi chỗ gập ghềnh thường được chắc chắn hơn chỗ phẳng phiu.
Có chịu lo, chịu làm mới sống được

Thuyền đi trên mặt nước, đi chỗ ghềnh thác thường được vững vàng hơn đi giữa dòng sông. Tại sao vậy? Tại vì, biết khó khăn mà giữ gìn thì được yên, cho là dễ dàng mà khinh thường thì phải hỏng.

Người đời thường sống về những khi lo lắng cần khổ, mà chết về những lúc sung sướng yên nhàn. Lẽ ấy rất rõ, mà người đời không biết sợ là bởi không chịu xét đến nơi.

Những lúc thư nhàn thử nghĩ mà coi. Vì đâu mà chí khí ta phải suy kém? Vì đâu mà công việc ta phải hư hỏng? Vì đâu mà uổng mất một đời rồi cùng nát với cỏ cây? Vì đâu hóa ra hôn mê, không biết quay đầu lại, rồi lại đeo thêm cái tiếng xấu về sau? Vì đâu thành chểnh mảng không biết lo xa rồi đến nỗi mắc vào tội vạ? Ấy rút lại mấy điều là chỉ bởi ăn không, ngồi rồi mà ra cả. Sự ăn không, ngồi rồi quả là cái cửa những điều ác. Cửa ấy người giỏi vào đến lúc ra thì dở, người tỉnh vào đến lúc ra thì mê, người cương trực vào đến lúc ra thì liệt nhược, người thanh khiết vào đến lúc ra thì ô uế, sự ăn không, ngồi rồi hại thân, hại nhà, hại nước nghĩ chẳng đáng sợ lắm ư!

Lã Đông Lai

Lời bàn:

Không lo, không làm thực làm hại người ta hơn là thuốc độc. Chẳng nói gì không lo, không làm thì không có cơm ăn, áo mặc, tiền tiêu, không giữ được phẩm giá, không làm hết bổn phận. Không lo không làm, thân thể yếu đi, tâm chí cùn lại và thường hay sinh ra làm càn, làm bậy, hại đến thân, đến nhà, đến nước.

Bao nhiêu câu như: “Sự ăn không ở rỗi là mẹ đẻ ra các nết xấu. Cái chìa khóa không dùng thành rỉ hoen. - Nhàn cư vi bất thiện” cũng cùng có một nghĩa nói đến cái tai họa của sự không lo, không làm cả. Cho nên người ta bất cứ nghèo hèn hay giàu sang, ai cũng phải có lo, có làm mới đáng sống và mới sống được. “Sinh ư ưu cần, tử ư dật lạc”, nghĩa là sống là do ở ưu hoạn cần lao, chết là do ở yên nhàn dật lạc. Câu cổ nhân nói thật không sai chút nào.

Muôn vật một loài

Người họ Điền nước Tề sắp phải đi xa, làm tiệc để cáo biệt anh em. Khách mời kể có cả nghìn người. Cỗ bàn đủ thứ sơn hào hải vị. Lúc ăn đến món chim, món cá, người họ Điền trông thấy, nói rằng: "Trời đãi người hậu thật! Sinh ra thóc lúa, sinh ra chim cá, không thiếu thứ gì để con người dùng". Bao nhiêu khách ăn đồng thanh khen câu nói ấy là phải. Duy có đứa con họ Bão, tuổi mới mười hai, đứng dậy nói rằng:
Muôn vật một loài
“Cứ như ý tôi thì câu nói ấy là không phải. Muôn vật trong trời đất là cùng sinh ra với ta, cùng một loài như ta, không có gì là sang hay hèn cả. Sang hèn mà phân biệt chẳng qua là các loại chế lẫn nhau, lớn nuốt nhỏ, khôn đè dại, khỏe lấn yếu mà thôi. Chớ nào có phải trời vì loài này mà sinh ra loài khác đâu. Người ta có cái gì ăn được thì lấy làm mà ăn, chớ trời nào lại vị người mà sinh ra thứ nọ thứ kia?

Cứ theo cái lý ấy, ruồi muỗi hút máu người, hổ lang ăn thịt người, thì có nói được trời vì những giống ấy mà sinh ra người không?".
Liệt Tử

Lời bàn:

Người ta ở trong khoảng trời đất thường hay tự phụ mình làm chủ trương cho cả muôn vật. Vì mình mà muôn vật phải sinh, vì mình mà cây thóc mọc, mà con lợn béo, mà con tằm nhả tơ, con ong gây mật, cho đến cả mặt trời sáng ban ngày, ngôi sao lóng lánh ban đêm. Nhưng xét lại, thì loài người chẳng qua cũng chỉ là một loài cùng sinh, cùng sống như muôn loài trong trời đất. Loài người sở dĩ hơn vật là chỉ hơn có chút trí khôn mà thôi. Nên như câu nói như đứa bé họ Bão mới thực là cao rộng, hiểu được cái vạn vật, tịnh sinh ở đời vậy.

Cầu ở mình hơn cầu ở người

Ngụy Văn Hầu hỏi Hồ Quyển Tử: "Cha hiền có đủ nhờ cậy không?"

Cầu ở mình hơn cầu ở ngườiHồ Quyển thưa:

– "Không đủ".

– Con hiền có đủ nhờ cậy không?

– Không đủ!

– Anh hiền có đủ nhờ cậy không?

– Không đủ!

– Em hiền có đủ nhờ cậy không?

– Không đủ!

– Bầy tôi hiền có đủ nhờ cậy không?

– Không đủ!

Văn Hầu đổi sắc mặt, gắt rằng:

– "Quả nhân hỏi nhà ngươi năm điều mà điều nào nhà ngươi cũng cho là không đủ, tại cớ làm sao?"

Hồ Quyển nói:

– "Cha hiền không ai hơn Vua Nghiêu mà con là Đan Chu phải bị đuổi. Con hiền không ai hơn Vua Thuấn, mà cha Cổ Tẩu thực ngang ngạnh. Anh hiền không ai hơn Vua Thuấn mà em là Tượng rất ngạo mạn. Em hiền không ai hơn Chu Công mà Quản Thúc bị giết. Bầy tôi hiền không ai hơn ông Thang, mà Vua Trụ, Vua Kiệt bị mất nước. Mong người không được như ý, cậy người không được bền lâu Nhà Vua muốn cho nước được bình trị, thì phải cậy ở mình trước, hơn là mong nhờ người".

Lời bàn:

Cốt ý Văn Hầu nước Ngụy là chỉ muốn hỏi có thể cậy được bầy tôi không, nhưng lúc đầu có mượn mấy câu hỏi đến cha con, anh, em rồi mới dẫn vào đến vua tôi, Hồ Quyển Tử đáp như thế là rất phải. Cha tuy từ với con, con tuy hiếu với cha, anh tuy yêu em, em tuy kính anh, bầy tôi trung với vua, nhưng mỗi người vị tất đã là hay được đủ mọi vẻ. Nếu mình không chịu cầu ở mình, chỉ biết cầu những bậc ấy để đến nổi thất đức, thì chẳng những không lợi gì mà lại còn hại đến mình nữa. Ta mong người, nhưng người ai cũng có thân, không ai bỏ cái thân mình, để giúp cho ta, ta cậy người, nhưng người cũng có lúc cùng, không thể suốt đời mà đỡ đần cho ta được. Vậy ta ở đời chẳng nên chỉ biết mong cậy vào người. Ta phải biết tự chủ, tự lập, chớ có bỏ mình mà cầu người.

Tài và Bất Tài

Một hôm Trang Tử cùng với học trò đi chơi ở trong núi. Thấy một cây to, cành lá rườm rà, có người đốn gỗ, chống búa đứng ở bên, mà không chặt.
Tài và Bất Tài

Trang Tử hỏi: "Sao không chặt cây này thế?

Người đốn gỗ đáp: "Cây này tuy thế mà gỗ xấu không dùng được việc".

Trang Tử nói: "Cây này chỉ vì chất gỗ không ra gì mà sống lâu được mãi".

Ra khỏi núi, Trang Tử vào chơi nhà một người quen. Chủ nhà vui mừng, bảo người nhà đem chim nhạn làm thịt.

Người nhà hỏi: "Một con gáy được, một con không gáy, thì làm thịt con nào?

- Chủ bảo: "Làm con không gáy".

Hôm sau, học trò hỏi Trang Tử rằng:

"Cái cây ở núi vì bất tài mà được sống lâu, con nhạn ở nhà chủ vì bất tài mà phải bị giết chết. Dám hỏi tiên sinh thì nên xử vào địa vị tài hay bất tài?

- Trang Tử cười, rồi nói: "Ta xử vào trong cái khoảng giữa tài và bất tài. Như vậy, thì tránh khỏi được tai nạn song chưa phải là kế vạn toàn. Chỉ những bậc đạo đức cao siêu, không quản khen chê lúc như rồng, lúc như rắn, không hẳn rõ ra tài hay bất tài, lúc lên, lúc xuống, chỉ cốt lấy đức hoà làm mực, siêu việt cả muôn vật, tuy là người mà lại khác người... Những bậc như thế, thì còn gì luỵ đến thân được! Còn thói đời thường tình nào có thế? Hợp với người, thì có lúc lìa tan; làm nên việc, thì có người nghị luận; ngay thẳng thì bị đè nén; tôn trọng thì bị chê bai; làm, thì có kẻ phá; giỏi, thì có kẻ ghen; không ra gì, thì thiên hạ lại khinh bỉ... Nhân tình như thế, làm thế nào được? Thương ôi! Các người nên ghi lấy; chỉ có đạo đức mới khỏi luỵ mà thôi".

Lời bàn:

Tài cũng khổ: quân tử đa nạn, tài liền với tai. Bất tài cũng khổ; khôn trống dại mái, dại để người ăn. Vậy con người ta phải làm thế nào cho ở vào cái khoảng giữa tài và bất tài thì mới gọi là khôn khéo nghĩa là thông minh thánh trí mà như ngu thì mới sinh tồn được. Tuy vậy, vẫn chưa bằng, người có đạo đức, nghĩa là người chỉ lấy một cái bụng ăn ở theo thiên lương mà ra ngoài vòng được cái tài, bao bọc được hết cả thiên hạ mà không gì luỵ đến thân. Thế mới hay: chữ "tâm" kia mới thực là thu liễm được cái tài mà bổ cứu được cái bất tài vậy.

Hay như Nguyễn Du từng nói: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

*Đạo đức: đạo: con đường hay, ai cũng theo mà đi; đức: cái lẽ phải ai cũng nên có trong lòng, bây giờ hai chữ đạo đức, chỉ cái lẽ, cái phép, cái hành vi phải cũng nên theo, cái cách cư xử ở đời hợp với luân thường.

*Đức hoà: cái đức thoả thuận êm ái vừa phải, không cứng, không mềm.

Biết dở sửa ngay

Đái Doanh Chi làm quan đại phu nước Tống, nói với thầy Mạnh Tử rằng:

– "Cứ theo lệ cũ, thì ruộng đánh thuế theo phép tỉnh điền; chợ và cửa ải, chỉ xét hỏi không mà thôi.

- Như thế thực là hay, song ta chưa làm ngay được. Bây giờ ta hãy đánh nhẹ bớt thuế đi, đợi đến sang năm mới bãi hẳn, thì nhà thầy nghĩ thế nào?"

Biết dở sửa ngay
Thầy Mạnh Tử nói: – "Nay có người mỗi ngày ăn trộm hai con gà của hàng xóm. Có kẻ bảo anh ta: “Làm thế không phải là cái cách của người lương thiện”. Anh ta đáp: “Ông nói phải lắm, nhưng tôi không thể ngừng ngay được. Xin để chừa dần, từ nay mỗi tháng tôi ăn trộm một con thôi, đợi đến sang năm tôi sẽ chừa hẳn”. Phỏng nói như thế thì có nghe được không?

Phàm làm việc gì cũng vậy, chưa biết là phi nghĩa thì thôi, chớ đã biết là phi nghĩa thì phải bỏ cho mau, cho chóng, sao lại còn đợi đến sang năm?

Lời bàn:

Phàm nghĩa với lợi không cùng đi được với nhau. Nếu làm nghĩa còn tính lợi, cứ tìm cách trì  hoãn mãi lại, thì biết đến bao giờ mới nên? Cho nên việc đã trót làm, biết là dở, có thể sửa lại được, thì phải sửa ngay. Đừng có nấn ná do dự, mà có khi dở chẳng những không sửa được lại còn e mỗi ngày một to thêm mãi ra, nhỏ thì hại việc tu thân, tề gia, lớn thì hại đến việc trị quốc, bình thiên hạ. Câu nói: "Cái gì làm được hôm nay, chớ để ngày mai", ta nên ghi nhớ lấy.

Ứng đối giỏi

Án Tử sắp sang sứ nước Sở, vua Sở nghe thấy, bảo cận thần rằng: "Án Tử là một tay ăn nói giỏi nước Tề, nay sắp sang đây, ta muốn làm nhục, có cách gì không?

- Cận thần thưa: Đợi bao giờ Án Tử sang, chúng tôi xin trói một người, dẫn đến trước nhà vua.

Ứng đối giỏi- Để làm gì?

- Để giả làm người nước Tề.

- Cho là phạm tội gì?

- Tội ăn trộm.

Lúc Án Tử đến nơi. Vua Sở làm tiệc thiết đãi tử tế. Rượu uống ngà ngà, bỗng thấy hai tên lính điệu một người bị trói vào.

Vua hỏi: "Tên kia tội gì mà phải trói thế?

- Lính thưa: Tên ấy là người nước Tề phải tội ăn trộm".

Vua đưa mắt, nhìn Án Tử nói rằng: "Người nước Tề hay trộm cấp lắm nhỉ!"

Án Tử đứng dậy, thưa rằng: Chúng tôi trộm nghe cây quất mọc ở đất Hoài nam, thì là quất ngọt, đem sang giồng ở đất Hoài bắc, thì hoá quất chua. Cành, lá giống nhau mà quả chua, ngọt khác nhau là tại làm sao? Tại thuỷ thổ khác nhau vậy. Nay dân sinh trưởng ở nước Tề thì không ăn trộm, sang ở nước Sở thì sinh ra trộm cắp. Có nhẽ cũng tại vì cái thuỷ thổ khác nhau nó xui khiến ra như thế chăng!

- Vua Sở cười nói: Ta muốn nói đùa mà thành phải chịu nhục. Thế mới hay kẻ cả không nên nói đùa bao giờ".

Án Tử Xuân Thu

Lời Bàn:

Vua Sở lập mưu làm nhục Án Tử mà không ngờ lại bị Án Tử nói lại. Thực đáng khen Án Tử có cái tài khẩu biện, đối đáp được giỏi như thế. Không có câu đối đáp như thế, chẳng những một mình Án Tử chịu nhục mà lại để nhục đến cả quốc thể: chẳng những nước Tề khỏi nhục, mà lại làm cho vua tôi nước Sở phải phục. Rõ ràng: "Kẻ cắp gặp bà già", "Vỏ quít dày có móng tay nhọn", "Quyết lòng ngậm máu phun người, bỗng đâu gió thổi máu rơi lại mình".

Xem truyện này, thì ta chẳng nên cố lấy lời nói cay đắng, độc ác mà làm trò đùa châm chích ai bao giờ. Nhưng khi có kẻ châm chích ta, muốn làm nhục ta, nhục nước ta, thì ta cũng phải tìm cách mà đối đáp lại, mới tránh được cái mũi nhọn đầu lưỡi thường khi châm chích người ta đau đớn hơn là cái mũi nhọn gươm giáo vậy.

Đầy thì Đổ

Khổng Tử vào miếu thờ Hoàn Công nước Lỗ, có một cái lọ đứng nghiêng, bèn hỏi người coi miếu.

Người ấy nói rằng: “Đó là một vật quý của nhà vua để làm gương, thường để bên chỗ ngồi chơi”.

Đầy thì Đổ
Khổng Tử nói: “Ta nghe nhà vua có một vật quý để làm gương, vật đó bỏ không thì đứng nghiêng, đổ nước vừa phải thì đứng ngay, mà đầy quá thì lại đổ, có lẽ là vật này chăng?”.

Ngài bèn sai học trò đổ nước vào. Quả nhiên nước đổ vừa thì lọ đứng ngay, nước đổ đầy thì lọ đổ, bỏ không thì lọ lại đứng nghiêng. Ngài than rằng: “Hỡi ơi! Ở đời chẳng có cái gì đầy mà không đổ!”.

Thầy Tăng Tử nói: “Dám hỏi có cách gì giữ cho đầy mà không đổ chăng?”.

Khổng Tử nói: “Thông minh thánh trí nên giữ bằng cách ngu độn, công lao to hơn thiên hạ thì giữ bằng cách khiêm cung, sức khỏe hơn đời nên giữ bằng cách nhút nhát, giàu có bốn bể nên giữ bằng thói nhún nhường. Đó là cách đổ bớt đi để giữ cho khỏi quá đầy mà đổ.”

Lời bàn:

Mặt trời đứng bóng rồi lại xế, mặt trăng tròn rồi lại khuyết, thế sự cũng vậy, thăng rồi trầm, thịnh rồi lại suy, đó là quy luật tự nhiên khó mà tránh khỏi. Tuy vậy, cứ theo lời dạy của Khổng Tử đây thì cũng có cách giữ được lâu dài mà không suy đổ. Cách ấy là: “Hữu nhược vô, thực nhược hư”, nghĩa là có mà như không, đầy đặc mà như trống rỗng.

Lời nói người bán cam

Ở Hàng Châu có người bán các thứ quả, khéo để dành cam, lâu mà không úng, vỏ vẫn đỏ hồng, trông đẹp như vàng, như ngọc, đem ra chợ bán giá đắt, mà người ta tranh nhau mua. Ta cũng mua một quả. Đem về, bóc ra, hơi xông lên mũi, múi xác như bông nát. Ta liền đem ra chợ, hỏi người bán cam:
Lời nói người bán cam

“Anh bán cam cho người ta để làm của cúng lễ, đãi tân khách hay là chỉ làm cho choáng bề ngoài để đánh lừa người ta? Tệ thật! Anh giả dối lắm”!

Người bán cam cười nói: "Tôi làm nghề này đã lâu năm để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán, người ta mua, chẳng ai nói gì, chỉ có ông là kêu ca. Thiên hạ giả dối nhiều, chẳng phải gì một mình tôi? Ông thật không chịu nghĩ đến nơi.. Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng trông ra dáng quan võ lắm, kỳ thực không biết có giỏi được như Tôn Tẫn, Ngô Khởi hay không? Người đội mũ cao, đóng đai dải, đường hoàng trông ra dáng quan văn lắm, kỳ thực không biết có giỏi như Y Doãn, Cao Dao không?

Giặc nổi không biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng không biết trừng trị, pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi, ngồi không ăn lương, không biết xấu hổ. Thế mà lúc ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn của quý, oai vệ, hách dịch vô cùng!.. Đó bề ngoài chẳng như vàng, như ngọc, mà bên trong chẳng như bông nát là gì? Ông không chịu xét những hạng người ấy mà đi xét quả cam của tôi!"

Ta nghe nói thế, nín lặng, không trả lời được ra làm sao. Ta nghĩ người ấy nói có giọng khôi hài. Dễ chừng người ấy ghét kẻ gian tà, giận phường thế tục mới thác ra chuyện bán cam để dạy người đời chăng?

Lưu Cơ

Lời bàn:

Tác giả muốn lấy quả cam đẹp vỏ, thúi ruột mà bóc cả cái hách dịch oai vệ bề ngoài của những bậc quan lớn một đời suy đốn, để phơi bày cái thực tình bất tài, bất trí, bất dũng ở bên trong. Nói rộng ra, bài này có ý dạy ta không nên tin bề ngoài, cũng như những bài ngụ ngôn nói: cái thùng không, bông lúa lép hay những câu ca dao:

"Trông em, anh ngỡ sao mai, biết rằng trong có như ngoài hay không?
Nhác trông ngỡ tượng tô vàng, nhìn ra mời biết chẫu chàng ngày mưa".

Thật là có ý vị.

Mạnh Tử: Mẹ hiền dạy con

Mạnh Tử mồ côi cha từ nhỏ và chịu sự nuôi dưỡng giáo dục của mẹ là Chương Thị, còn được gọi là Mạnh Mẫu. Mạnh Mẫu nổi tiếng với câu chuyện 3 lần chuyển nhà để cho con trai mình được sống, học tập trong ngôi trường và môi trường giáo dục tốt nhất.
Mạnh Tử: Mẹ hiền dạy con

Lần đầu tiên hai mẹ con Mạnh Tử chuyển nhà khi ấy nhà gần ở nghĩa địa. Mạnh Tử thấy người ta đào, chôn, lăn, khóc, về nhà cũng bắt chước theo đào, chôn, lăn, khóc. Bà Mẹ trong lòng thầm nghĩ : “Chỗ u ám như vậy không phải chỗ con ta ở được”. Rồi bà dọn nhà ra gần chợ.

Thầy Mạnh Tử ở gần chợ thấy người buôn bán điên đảo lọc lừa lẫn nhau, về nhà cũng bắt chước nô nghịch cách buôn bán điên đảo. Bà mẹ thấy thế, lại nói : “Chỗ thị phi, dối gian này cũng không phải chỗ con ta ở được”. Bèn dọn nhà đến ở cạnh trường học.

Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thấy trẻ đua nhau học tập lễ nghĩa, nhân cách, rất lễ phép cũng ham học theo với chúng bạn, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép cắp sách vở đến trường. Bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói: “Chỗ này mới thực sự là chỗ cho con ta ở được đây!”

Một hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà hàng xóm giết heo, về hỏi mẹ: “Người ta giết heo làm gì vậy mẹ?”

Bà mẹ đang bận chuyện nhà nên nói đùa: “Để cho con ăn đấy!” Nói xong, bà nghĩ lại hối rằng: “Ta lỡ miệng rồi! Con ta thơ dại, ý thức còn mới mở mang mà ta lại nói dối nó, thì chẳng khác nào dạy nó nói dối hay sao?” Nghĩ vậy bà đi mua thịt heo về cho con ăn thật.

Lại một hôm, Thầy Mạnh Tử đang đi học, bỗng bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cửi, trông thấy liền cầm dao cắt đứt ngang tấm vải đang dệt trên khung, xúc động mà nói rằng: “Con đang đi học mà bỏ học thì cũng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi như vậy! ”

Từ hôm đó Thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần, quyết không phụ tấm lòng của mẹ, về trở sau thành một bậc đại hiền vang danh ở thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Mạnh Mẫu nổi tiếng là một bà mẹ có cách giáo dục con nghiêm khắc và chu đáo nhất trong lịch sử. Bà có những cách dạy con hiệu quả như chọn môi trường sống thích hợp với con để tránh những ảnh hưởng xấu từ môi trường bên ngoài đem lại. Đồng thời, bà gieo vào tiềm thức con cái đức tính chân thật để tạo cho con nếp sống đạo đức sau này, dạy con tính cần cù, chăm chỉ, siêng năng, không biếng nhác, có một thái độ kiên trì nhẫn nại, khắc phục khó khăn, gian khổ.

Lời bàn:

Mẹ Thầy Mạnh Tử thật là biết dạy con. Mấy lần dọn nhà, thế là hiểu cái lẽ: "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Nói lỡ lời phải mua thịt cho con ăn, thế là hiểu cái lẽ: Chớ nên nói dối trẻ. Thấy con bỏ học mà cầm dao cắt đứt tấm vải làm thí dụ, thế là hiểu cái lẽ: Học hành cốt phải chuyên cần... Người ta đã nói: Người mẹ là người thầy giáo thứ nhất của trẻ, nên người mẹ phải biết cách dạy trẻ mới được. Dạy con từ thuở còn thơ, cái buổi ban đầu là cái buổi khó, mà cái buổi ấy là ở trong tay người mẹ, người mẹ tức là người có cái trách nhiệm gia đình giáo dục rất to. Không kém gì người cha, mà có lẽ hơn.


Tấm lòng của người mẹ thương con như trời biển mà còn mong muốn những điều tốt nhất cho con mình. Và tâm nguyện lớn nhất cũng chỉ là con mình được nên người! Vậy mới biết những bậc vĩ nhân trên thế giới có được sự thành công mà nhiều người biết đến là đằng sau sự thấp thoáng của tình mẫu tử thiêng liêng, to lớn đó!

Dạy con thành thực

Vợ thầy Tăng Tử đi chợ. Con khóc đòi đi theo. Mẹ bảo: - "Con ở nhà, rồi mẹ về, mẹ làm thịt lợn cho con ăn".

Dạy con thành thực
Lúc vợ về, thầy Tăng Tử đi bắt lợn làm thịt.

Vợ nói: - "Tôi nói đùa nó đấy mà!"

Thầy Tăng Tử bảo: - "Nói đùa là thế nào? Đừng khinh trẻ thơ là không biết gì. Cha mẹ làm gì, nó thường hay bắt chước. Nay mình nói dối nó, chẳng là mình dạy nó nói dối ư!"

Tăng Tử nói xong, làm thịt lợn cho con ăn thật.

Lời Bàn:

Thầy Tăng Tử nhà nghèo, phải giết lợn, mẹ thầy Mạnh Tử cũng có mua miếng thịt lợn nhà láng giềng cho con ăn đều là vì đã trót nói đùa với trẻ con ăn thịt lợn, thì không muốn nói dối nó, để giữ lấy lòng thực của nó. Phàm cha mẹ, ai là không muốn cho con thành thực. Nhưng muốn vậy, tất mình phải giữ gìn, chớ có nói dối nó bao giờ. Lục Chí có câu nói rằng: "Nếu mình không hết lòng thành mà mong người ta hết lòng thành, chắc người ta chán mình mà không theo mình nữa. Lần này mình không có lòng thành, mà bảo lần sau rồi có lòng thành, chắc người ta ngờ vực mà không tin được nữa". Cũng một ý với thầy Tăng Tử dạy con vậy.

Cứu người lúc nguy cấp

Trang Chu nghèo túng sang hỏi vay thóc Ngụy Văn Hầu. Ngụy Văn Hầu nói:

Cứu người lúc nguy cấp
"Tôi có cái ấp, người ta sắp nộp tiền thóc, tôi sẽ cho ông vay ba trăm lạng, ông có bằng lòng không?"

Trang Chu giận nói: "Khi Chu đến đây, đi giữa đường, nghe có tiếng gọi, ngảnh lại trông, thì thây một con cá đang ngắc ngoải trong cái vết bánh xe. Chu này hỏi: Cá ở đây làm gì thế?

- Cá đáp: Tôi là Thuỷ thần ở bể bên Đông mắc cạn tại đây, ông có thể cho tôi một bát nước để cứu tôi lúc nguy cấp này không?

- Chu này bảo rằng: Để tôi đi qua chơi nước Ngô, nước Việt, rồi tôi lây nước sông Tây Giang về đón ngươi, ngươi có bằng lòng không?

- Cá giận nói: Tôi đang cần đến nước, ông chỉ cho tôi được một ít là tôi sống. Nay ông nói như thế, đợi đến lúc ông về, thì dễ ông đến chỗ hàng cá khô đã thấy tôi đấy rồi".
Thuyết Uyển

Lời Bàn:

Bài này có ý dạy khi người ta có việc cẩn cấp, nhờ cậy mình mà mình có thể giúp được, thì nên giúp ngay, chớ để chậm trễ mà về sau có muốn giúp, cũng không giúp được nữa. Như thế, chẳng là phí một cái lòng muốn giúp, để mất một cái dịp làm lành ư! Cứu cấp cần phải mau chóng, vớt kẻ ngã sông, gọi người ngộ gió, chữa đám cháy nhà mà chậm chạp thì thật vô ích.

Ứng đối lanh lợi

Thiệu là con vua Nguyên Đế nhà Tấn, lúc nhỏ đã cực kỳ thông tuệ.

Một hôm có sứ thần ở Trường An lại, vua Nguyên Đế hỏi thử rằng: “Trường An gần hay mặt trời gần hơn?”

Ứng đối lanh lợiThiệu đáp: "Trường An gần hơn".

- Tại làm sao?

- Tôi chỉ thấy nói có người ở Trường An lại, chứ chưa từng thấy nói có người ở mặt trời lại đây bao giờ.

Vua nghe câu nói lấy làm lạ.

Cách mấy hôm, vua đem câu chuyện kể lại cho quần thần nghe. Nhân Thiệu đứng hầu bên lại hỏi đùa rằng:

- Trường An gần hay mặt trời gần hơn?

Thiệu đáp: "Mặt trời gần hơn".

Vua ngạc nhiên hỏi: "Sao hôm nay lại trả lời khác hôm nọ như thế?"

- Tôi ngửng đầu lên, tôi trông thấy ngay mặt trời, chớ không trông thấy Trường An đâu cả.

Vua nghe lại càng lấy làm lạ.

Tấn Sử

Lời bàn:

Thiệu đối đáp lanh lợi như vậy, thực đáng khen là đĩnh ngộ. Khi ai hỏi gì, mà đối đáp được xác lý là đã khó, đã xác lý mà lại mau trí khôn lại càng khó hơn nữa. Lẽ phải không cùng, ứng đối mau mắn và xác đáng, thế mới là người thông tuệ có tài.

Họa phúc không lường

Một ông lão ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói: “Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!”
Họa phúc không lường
Cách mấy tháng, con ngựa về lại quyến thêm được một con ngựa hay nữa. Người quen kẻ thuộc đều đến mừng. Ông lão nói: “Được ngựa thế mà hoạ cho tôi đấy, biết đâu!”

Từ khi được ngựa hay, con ông lão thích cưỡi, chẳng may ngã què chân. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói: “Con què thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!”

Cách một năm, có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ có con ông lão, vì què, không phải đi lính, mà cha con vẫn có nhau.

Hoài Nam Tử

Lời bàn:

Hoạ phúc xoay vòng, khó lòng biết được. Trong cái phúc, thường có cái hoạ nấp sẵn ở đấy; trong cái hoạ đôi khi lại có cái phúc nấp sẵn ở đấy. Cho nên, đối với sự hoạ phúc, ta không nên vội lấy việc chỉ có một thời mà quyết định cho là hay mãi, hay dở mãi được. Ta chỉ nên, khi gặp phúc, thì phải cẩn thận, đừng có kiêu sa phóng túng, may mà giữ được phúc lâu dài; khi gặp hoạ, thì tu tỉnh lấy thân, đừng có ngã lòng, chớ có oán trách may thời thoát được hoạ, lại gặp được phúc chăng.

Học trò biết học

Công Minh Tuyên đến học thầy Tăng Tử. Ở nhà thầy đã ba năm mà không mấy khi đọc sách.

Thầy Tăng Tử hỏi: "Ngươi đến đây học đã ba năm nay, ta xem ý ngươi không mấy khi học tập sách vở như các anh em, là tại làm sao?"

Công Minh Tuyên nói: "Thưa thầy, con vẫn học. Con thấy: thầy ở trong nhà, trước mặt song thân, lúc nào cũng hiếu thuận, hòa nhã, cho đến giống vật như chó, mèo, thầy cũng không quở mắng bao giờ; Thầy ứng tiếp bạn bè cung kính ung dung, rất có lễ độ, kẻ dở người hay, ai nấy đều thiếp phục; Thầy ở Triều đình, đối với kẻ dưới, bề ngoài rất là nghiêm trọng mà trong bụng rất là nhân từ, không có ý hại ai bao giờ cả. Ba điều ấy con lấy làm vui lòng học mãi mà chưa được. Con đâu dám không học mà cứ ở cửa nhà thầy".
Học trò biết họcThầy Tăng Tử nghe đoạn, tạ lại Công Minh Tuyên và nói rằng: "Ta nay không bằng nhà ngươi".

Lời bàn:

Học trò như Công Minh Tuyên, thầy dạy như Tăng Tử, mới thực là học trò biết học, ông thầy biết dạy, xứng đáng thầy trò vậy. Làm ông thầy, không những lấy tri thức mà truyền thụ, lại cần lấy đức tính mà làm gương giáo hóa cho kẻ đi học nữa. Sách có câu: “Dĩ ngôn vi giáo, dĩ thân vi giáo”, cũng là lấy nghĩa ấy. Làm học trò nhưng không những bo bo ở việc học tập văn bài, lại phải học cả động, tĩnh, ngữ, mặc, thái độ hình dung của thầy để bắt chước cho được được thầy nữa. Học như thế mới là học được cái tinh hoa. 

Tình mẹ con của loài vượn

Ở đất Vũ Bình có giống vượn lông đỏ như vang, nõn như tơ trông xa nhấp nhánh rất là đẹp mắt. Có hai mẹ con vượn, mẹ thì khôn ngoan, tai quái, con thì ngây ngô, nhẹ dạ, nhưng lúc nào cũng đi liền bên vượn mẹ. Người đi săn không thể nào nhử mồi đánh bẫy được, mới lấy thuốc độc xát đầu mũi tên, rình lúc vượn mẹ vô ý thì bắn. Vượn mẹ biết mình không thể sống được, vắt sữa ra cho con uống, xong rồi lăn ra chết. Người đi săn quay về phía vượn con, cầm roi quật vào cái xác vượn mẹ. Vượn con thấy, kêu gào thương xót, chạy lại gần, người đi săn bắt sống được. Lúc về nhà, cứ đêm đêm, vượn con nằm phục bên xác mẹ thì mới yên; đôi khi lại ôm lấy kêu gào vật vã rất thảm thiết. Được mấy hôm vượn con cũng chết.
Tình mẹ: Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ

Than ôi! Vượn là giống vật còn biết thương mẹ, liều chết với mẹ, huống chi là giống người lại nỡ nhẫn tâm quên mẹ, phụ lòng mẹ ư!

Lời bàn:

Vượn mẹ đến chết vẫn còn thương con, thực là “Người mẹ sinh ra chỉ để thương con”. Vượn con thương mẹ đến nỗi phải chết, thực là đáng khen và đáng làm gương cho những mẹ bất từ, những người con bất hiếu, ở vào thời đại phong hoá suy đồi này.

Theo ai phải cẩn thận

Khổng Tử thấy kẻ đánh lưới chim sẻ chỉ đánh được thuần sẻ non vàng mép. Ngài bèn hỏi rằng: "Không đánh được sẻ già là tại làm sao?

Theo ai phải cẩn thận
Kẻ đánh lưới nói: "Sẻ già biết sợ, cho nên khó được, sẻ non tham ăn, cho nên dễ bắt. Nếu sẻ non mà theo sẻ già, thì bắt sẻ non cũng khó, nhưng nếu sẻ già mà theo sẻ non, thì bắt sẻ già cũng dễ".

Khổng Tử nghe đoạn, quay lại bảo học trò rằng: "Biết sợ để tránh tai hại, tham ăn mà quên nguy vong, đó là tâm tính tự nhiên vậy. Song phúc hay hoạ lại do như cái theo khôn hay theo dại. Cho nên người quân tử, trước khi theo ai, phải cẩn thận. Theo ai mà biết phòng xa như bực trưởng giả, thì được toàn thân, theo ai mà hay nông nổi như kẻ tiểu nhân thì bại hoại".

Lời bàn:

Chim sẻ thế, người ta cũng thế, thường chỉ vì theo khôn, theo dại mà gặp phúc hay hoạ. Cho nên trước khi theo ai, ta phải xem xét cho cẩn thận. Chớ có nhắm mắt theo liều, đến khi hối lại, thì sự đã rồi, ăn năn không kịp. Cò đã theo vào lưới, thì dù nói phải trái làm sao, người đánh lưới cũng không thả ra được nữa.

Thuật xem tướng

Nước Kinh có người xem tướng giỏi nói câu nào trúng câu ấy. Trong nước xa gần đâu cũng biết tiếng.

Thuật xem tướngVua Trang Vương thấy thế, vời lại hỏi:

"Nhà ngươi dùng thuật gì mà xem tướng giỏi như thế?"

Người xem tướng thưa rằng:

"Thần không có thuật gì lạ cả. Thần chỉ xem bạn người ta mà biết được người ta hay, hay dở. Như thần xem cho thường dân, mà thấy chơi với những người bạn hiếu, đễ, thuần, cẩn, biết giữ phép nước, thì thần đoán người dân ấy là người hay, thân tất một ngày một vẻ vang, nhà tất một ngày một thịnh vượng.

Như thần xem cho quan lại, mà thấy chơi với những bạn thành, tín, có phẩm hạnh, thích điều phải thì thần đoán cho ông quan ấy là người tốt, làm quan tất mỗi ngày một cao thăng, giúp vua tất mỗi ngày một ích lợi.

Như thần xem cho vua chúa, mà thấy quan gần có lắm người hiền, quan xa có lắm người trung, lúc có lỗi, nhiều người can ngăn, thì thần đoán là ông vua giỏi, vua tất mỗi ngày một tôn trọng, nước tất mỗi ngày một trị yên, thiên hạ tất mỗi ngày một qui phục... Thần quả không có thuật gì lạ, chỉ xem người mà biết được người hay, hay dở."

Vua Trang Vương cho nói là phải. Bấy giờ kíp thu dùng những người tài giỏi, sau nước Sở thành cường thịnh nhất đời Chiến quốc.

Lời bàn:

Đại ý bài này cốt nói làm bạn với ai, thì rồi giống người ấy, làm bạn với người hay, thì thành hay, làm bạn với người dở, thì hoá dở, cũng như những câu phương ngôn của ta; “Gần mực thì đen, gần đèn thi rạng”, “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Cái thuật xem tướng đây thực ám hợp với câu ngạn ngữ: anh nói anh chơi với ai, thì tôi nói được anh là người thế nào.

Cách dùng pháp luật

Quý Cao làm quan sĩ sư nước Vệ có làm án chặt chân một người.

Sau nước Vệ loạn, Quí Cao chạy trốn, ra đến cửa thành, gặp người giữ cửa thành, lại chính là người mình chặt chân ngày trước.
Cách dùng pháp luật
Người ấy bảo: "Kia có chỗ tường đổ"

Quý Cao nói: "Người quân tử không trèo tường".

Lại bảo: "Kia có lỗ hổng".

- "Người quân tử không chui lỗ hổng".

Lại bảo: "Ở đây có cái nhà".

Quí Cao mới chạy vào nhà ẩn, bởi vậy mà quân đuổi theo không thể nào bắt được.

Lúc Quí Cao sắp đi, bảo người giữ thành rằng:

"Trước ta theo phép nước mà chặt chân ngươi. Nay ta gặp nạn chính là để ngươi báo thù mà ngươi ba lần cho ta trốn. Thuơng ta như thế nghĩa là sao?"

Người giữ thành nói:

"Tội tôi đáng chặt chân, tránh sao cho khỏi. Lúc ông luận tội, xoay sở pháp luật, ý muốn nới tay tôi cũng biết. Lúc án đã định, đem ra hành hình nét mặt ông buồn rầu, tôi lại biết lắm. Ông làm như thế há có vị riêng gì tôi, đó là tâm địa bực quân tử tự nhiên vậy... Thế cho nên tôi muốn cứu ông".

Đức Khổng Tử nghe chuyện nầy nói rằng: " Cũng là một cách dùng pháp luật mà có lòng nhân từ thì gây nên ơn, dùng mà ra dáng tàn bạo thì gây nên oán. Như Quí Cao thật là người làm quan biết dùng pháp luật vậy".

Lời bàn:

Một người bị gia hình đến chặt chân, thấy người ta gặp cơn nguy cấp, chẳng những không báo thù, lại còn tìm cách cứu người ta, thế chẳng là biết dĩ đức báo oán, đáng gọi là người nhân lắm ư!

Còn một người đang lúc nguy cấp, chết đến nơi còn không chịu trèo tường, chui lỗ, thế cũng chẳng là biết tự trọng phẩm giá đáng gọi là quân tử ư! Người canh cửa thành sở dĩ phục Quí Cao là vì Quí Cao biêt dùng pháp luật. Đã đành rằng pháp luật đặt ra là để trừng trị kẻ có tội, nhưng nếu cho như bất đắc dĩ phải khép vào án, lúc hành hình lại có chút bụng nhân từ ở trong, thì kẻ chịu tội mới thực tâm phục được. Người chấp pháp, tuy giữ lễ công binh khép vào lý, nhưng ở trong còn có chút tình, thương kẻ mắc tội, thì mới là biết dùng pháp luật vậy. Nói rộng ra, trị kẻ tội ác mà kẻ tội ác ấy sau trở thành người lương thiện, Quí Cao đây thật là một vị quan trung hậu biết đem hình pháp giúp cho sự giáo dục vậy.

Thế nào là trung thần

Văn Quân đất Lỗ Dương bảo Mặc Tử: “Có kẻ nói với ta rằng: Trung thần là người bắt cúi thì cúi, bắt ngửng thì ngửng, để thì im, gọi thì thưa, như thế có cho là trung thần được không?”.

Mặc Tử nói: “Bắt cúi thì cúi, bắt ngửng thì ngửng, như thế khác gì cái bóng? Để thì im, gọi thì thưa, như thế khác gì tiếng vang? Quan liêu mà dùng đến những kẻ như bóng, như vang, thì có còn được ích gì? 
Thế nào là trung thần
Thế nào là trung thần
Cứ như tôi nghĩ đây mới gọi là trung thần, khi vua có lầm lỗi, phải liệu cách can ngăn mà đưa vào điều thiện; khi mình có điều hay, phải tìm đường bày tỏ, mà không lộ ra ngoài; trên thì thành thực một lòng, một dạ với vua; dưới thì không a dua vào bè kết đảng với ai; những sự tốt lành yên vui thì để phần vua hưởng, những điều oán thù lo lắng thì mình hứng đựng. Có được như thế, thì tôi mới cho là trung thần”.