Pages

Phát hiện trẻ bị xâm hại, bạo hành gọi ngay 111

Khi chúng ta phát hiện trẻ có dấu hiệu bị bạo hành, bị ngược đãi, xâm hại hoặc bị bóc lột, bắt cóc, mua bán trẻ em... xin hãy gọi ngay đến số 111

Tệ nạn Xã Hội: là báo ứng, con cháu nhờ vào Đức ông bà cha mẹ

Mưu tài hại mạng: phải đánh đổi bằng sinh mạng

Showing posts with label truyện dân gian. Show all posts
Showing posts with label truyện dân gian. Show all posts

Thân Sơ Khác Biệt

Nước Tống có người nhà giàu. Một hôm trời mưa, tường nhà anh ta đổ.

Ðứa con nói: "Thưa cha, không đắp ngay tường lại, e có trộm vào."
Thân Sơ Khác Biệt

Người láng giềng thấy tường đổ, cũng nói: "Này bác, không đắp ngay tường lại, e có trộm vào."

Tường chưa kịp đắp, tối hôm ấy, nhà anh ta quả nhiên mất trộm thật.

Anh ta khen đứa con là khôn ngoan biết trước, mà người láng giềng là gian giảo làm xằng.

Cùng một câu nói: con nói thì khen là tinh khôn, láng giềng nói thì ngờ là trộm cắp, bởi tại cớ làm sao? Tại con thì tình thân, cho nên không có bụng ngờ, láng giềng là tình sơ, cho nên sinh ra ngờ vực. Thế cho nên phận sơ mà câu nói thân, thì thế nào cũng làm cho người nghe mình đem lòng nghi ngờ.

Lời Bàn:

Bài này cốt dạy ta phải thận trọng câu nói. Người láng giềng đây sở dĩ mà để người nhà giàu ngờ vực, là vì không được thân với người ta, mà nói một câu ra chừng thân lắm, muốn lo việc của người như việc của mình, coi việc thiết đến người cũng như thiết đến mình vậy. Cho nên gặp người đáng nói mà không nói là mất người, gặp người không đáng nói mà lại nói, chẳng những làm phí mất lời nói, mà lại để cho người ta sinh nghi thêm nữa!

Mất Búa

Mất BúaCó người đánh mất cái búa, bèn đem lòng nghi ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa, nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn trộm búa, thấy nhất cử nhất động nào của nó không một tí gì là không rõ ra một đứa ăn trộm búa cả.

Ðược một lúc sau, người ấy bới trong hố, lại tìm thấy cái búa. Thì hôm sau, trông đứa con nhà láng giềng ngôn ngữ cử chỉ không một tí gì giống đứa ăn trộm búa nữa.

Lời Bàn:


Người ta khi mất một cái gì, thì một mất mười ngờ. Mà khi trong bụng đã ngờ vực thì các ngoại vật cũng theo đấy mà biến đổi đi cả. Phàm tâm trí mình đã cảm giác làm sao, thì tự mình lại tưởng tượng một cái cảnh sắc hợp như thế. Người mình vui, thì mình thấy sự vật bên ngoài hình như cũng vui, người mình buồn thì mình thấy sự vật ngoài cũng buồn. Chẳng qua là tại tự mình tưởng tượng như vậy, chớ ngoại vật thật đã thay đổi như thế đâu! Cái tâm chuyển thời hết thảy muôn pháp đều chuyển theo. Cho nên tâm cần phải chính. Tâm có chính thì tư tưởng hành vi mới thoát khỏi tà khúc được.

Chuyện A Lưu

A Lưu là một tên tiểu đồng nhà ông Chu Nguyên Tố. Nó thực là ngây ngô, không được việc gì cả, mà ông Nguyên Tố vẫn nuôi nó suốt đời.

Lúc ông bảo nó quét nhà, nó cầm chổi quanh quẩn suốt buổi mà không sạch được một cái buồng con. Ông giận mắng, thì nó quăng chổi xuống đất, lẩm bẩm nói: "Ông quét giỏi, thì ông phiền tôi làm gì!"

Khi ông đi đâu vắng, sai nó chực ngoài cửa, dù khách quen đến, nó cũng không nhớ được tên ai. Có hỏi, thì nó nói: "Người ấy lùn mà béo. Người ấy gầy mà lắm râu. Người ấy xinh đẹp. Người ấy tuổi tác và chống gậy..." Ðến lúc nó liệu chừng không nhớ xuể, thì nó đóng cửa lại, không cho ai vào nữa.
Chuyện A Lưu

Trong nhà có chứa một ít đồ cổ như chén, lọ, đỉnh, đôn. Khách đến chơi, nó đem bầy ra cho xem. Lúc khác về, nó lén đến gõ các thứ ấy, mà nói: "Những cái này có khi bằng đồng mà sao nó đen xì lại như thế này!" Rồi nó chạy đi lấy cát, lấy đá, lấy nước để đánh.

Nhà có cái ghế gãy chân, ông sai đi chặt cành cây có chạc, để chữa lại thì nó cầm búa, cầm cưa đi khắp vườn. Hết ngày, về, nó chìa hai ngón tay làm hiệu mà nói: "Cành cây có chạc đều chỉa trở lên cả, không có cành nào mọc chúc xuống đất." Cả nhà ai cũng phải phì cười.

Trước sân có vài cây liễu mới trồng. Ông sợ trẻ láng giềng đến nghịch hỏng, sai nó trông nom giữ gìn, đến lúc nó vào ăn cơm, thì nó nhổ cả cây lên mà cất đi một chỗ.

Công việc nó làm, nhiều chuyện đáng bật cười như thế cả.

Ông Nguyên Tố là một người viết chữ chân tốt mà vẽ lại giỏi lắm. Một hôm, ông hòa phấn với mực để vẽ, thấy A Lưu đấy, nói đùa với nó rằng: "Mày có vẽ được không?"

A Lưu đáp: "Khó gì mà không vẽ đươc." Ông bảo vẽ thì A Lư vẽ nét đậm, nét nhạt, nét xa, nét gần, như người xưa nay vốn đã biết vẽ. Ông thấy vậy thử luôn mấy lần, lần nào A Lưu vẽ cũng được như ý cả.

Tự bấy giờ, ông dùng dến A Lưu luôn không lúc nào là rời ra nữa. Sau A Lưu nổi tiếng là một nhà danh họa.

Lời Bàn:

Quét nhà suốt buổi không sạch được cái buồng con, trồng cây lúc ăn cơm, nhổ cả cây đem vào, người mà ngốc như thế, thì bảo còn dụng làm được gì nữa! Tuy vậy không nhớ tên người, chỉ nhớ hình người, thấy cành mọc lên, không thấy cành chúc xuống, xem đồ vật biết phân biệt đồng hay đất, thế đủ hay A Lưu có cái trí khuynh hướng về nghề vẽ vậy.

Ôi! gỗ mục vứt đi người kiếm củi vẫn nhặt, đá cuội là xấu, thợ ngọc vẫn dùng, trong trời đất thì không có vật gì là vật bỏ đi, huống chi là người ta tinh khôn hơn vạn vật, lại không được một điều gì khả thủ ư? A Lưu ngây dại, tưởng là người bỏ đi, thế mà được nổi tiếng về nghề họa, cũng nhờ ông Nguyên Tố có lượng bao dung, biết dụng nhân như dụng mộc.

Xem bài này thì cha mẹ dạy con, thầy dạy học trò chẳng nên tìm rõ cái sở trường của mỗi đứa mà dẫn dụ, mà luyện tập nó mặt ấy, ngay tự lúc còn trẻ tuổi, để cho nó may có cơ thành tài được ru! Ðã đành: Thiên địa vô khí vật, thánh nhân vô khí nhân, nhưng cốt phải biết: nhân tài nhi đốc, (tùy theo cái tài mà bồi bổ khải phát cho nẩy nở ra) thì tài mới thành được.

Giữ lấy nghề mình

Tử Du người nước Trịnh. Học nghề làm dù che mưa ba năm mới thành nghề. Trời đại hạn. Không ai dùng đến dù. Anh ta bèn bỏ nghề làm dù, đi học nghề làm gàu tát nước. Lại học ba năm mới thành nghề thì trời mưa luôn mãi, không ai dùng đến gàu. Bây giờ, anh ta lại quay về nghề làm dù như trước. Không bao lâu, trong nước có giặc. Dân gian nhiều người phải đi lính, mặc đồ nhung phục, không ai cần đến dù. Anh ta xoay ra nghề đúc binh khí, thì đã già quách rồi.
Giữ lấy nghề mình

Úc Ly Tử thấy anh ta, mới thương tình mà nói rằng:

- Than ôi! Bác chẳng đã già đời mất rồi ư! Già hay trẻ không phải là tự người, mà là tự trời. Điều ấy đã cố nhiên. Nhưng nghề nghiệp thành hay bại. Dù lỡ thời không gặp dịp, cũng không nên đổ cả cho trời, tất có mình ở trong. Ngày xưa nước Việt có một người làm ruộng. Cấy lúa chiêm ba năm đều bại vì lụt cả. Có người bảo anh ta nên tháo nước mà cấy lúa mùa. Anh ta không nghe. Cứ cấy lúa chiêm như trước. Năm ấy nắng to, mà nắng luôn ba năm nên vụ chiêm nào cũng được, thành ra anh ta kéo lại hòa cả mấy năm mất mùa trước. Cho nên có câu rằng:

"Trời đại hạn nghĩ đến sắm thuyền. Trời nóng nực nghĩ đến sắm áo bông. Đó là câu thiên hạ nói rất phải!"

Lời bình:

Người ta làm nghề gì, ai chẳng muốn cho nghề ấy được phát đạt, thịnh vượng. Song gặp thời, thì hay, lỡ thời thì hóa dở. Như thế thì cái thời cũng mang tính quyết định với nghề của mình lắm. Khốn cái thời là tự ở đâu đâu chớ không tự mình gấy lấy được, cho nên có lắm người làm nghề, không thành nghề, thường nói rằng: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” nghĩa là người chỉ mưu tính công việc, còn công việc nên hay không nên, là do tại trời. Song người có gan dù có lỡ thời cũng cứ vững dạ mà giữ lấy nghề, vì nghề chắc đã thành, thì tất cũng có chốn dụng, chẳng chóng thì chầy, chẳng nhiều thì ít. Chớ cứ nay làm nghề này, mai xoay nghề khác, như hòn đá lăn mãi không bao giờ mọc rêu, thì chỉ nhọc xác, già người mà vẫn không ăn thua gì cả.

Người nước Lỗ sang nước Việt

Hai vợ chồng người nước Lỗ, chồng khéo đóng giày, vợ khéo đan mũ, muốn đem nhau sang kiếm ăn ở nước Việt.

Có người đến bảo rằng: “Vợ chồng nhà bác đi chuyến này thế nào cũng cùng khổ".
Người nước Lỗ sang nước Việt
Người nước Lỗ hỏi: "Sao bác lại nói thế?"

Người kia bảo: "Giày dùng để đi, mà người Việt đi chân không, không thích đi giày; mũ dùng để đội, mà người Việt để đầu không, không cần đội mũ. Vợ chồng nhà bác làm giày, đan mũ giỏi thật, song đến ở nước người ta, người ta không dùng đến tài nghề của mình, thì làm thế nào mà không khốn cùng?”.

Hai vợ chồng người nước Lỗ nghe xong, không sang nước Việt nữa.

Lời bàn:

Đến chỗ đi đầu không, mà bán mũ, đến chỗ đi chân không mà bán giày thì cũng giống như mùa rét mà bán quạt, mùa nực mà bán chăn bông. Tuy trái nơi và trái thời khác nhau, nhưng cũng là trái, không được việc cho mình mà lại còn để tiếng cười cho thiên hạ nữa. Cho nên người có tài phải tìm nơi đáng ở mà chớ đem đàn mà gảy tai trâu thì có ích gì.

Đánh Đàn

Vua nước Tề thích nghe sáo. Có kẻ muốn cầu chút công danh, đem đàn đến đứng trước cửa Nhà vua mà đánh. Đánh luôn ba năm, mà vua không hỏi tới. Anh ta giận lắm, gắt mà nói rằng:

Đánh Đàn- “Ta đánh đàn đến cả quỷ thần cũng phải say mê, thế mà vua không biết cho ta!”

Có người nghe nói, cười mỉa, bảo rằng: "Vua thích nghe tiếng sáo mà bác đánh đàn, cho dù bác hay đến đâu, nhưng vua không thích nghe đàn thì làm thế nào được? Thế là bác chỉ giỏi ngón đàn, chớ không khéo cầu công danh ở nước Tề này vậy!”

Lời bàn:

Đem đàn ra đánh cho người thích thổi sáo nghe, mà cầu cho người ta yêu thích thật là khờ dại. Cho nên mình tuy có tài, nếu muốn thi thố cái tài, thì phải dò trước xem người dùng mình có ưa cái tài ấy không. Bằng không, mà mình cứ phô tài thì chẳng những việc muốn cầu không được mà lại để thiên hạ cười chê nữa.

Thổi Sáo

Vua Tuyên Vương nước Tề thích nghe sáo, và lúc nào muốn nghe, bắt ba trăm người cùng thổi một loạt. Trong bọn ba trăm người ấy, có Đông Quách tiên sinh không biết thổi sáo, nhưng cũng lạm dự vào đấy để kiếm lương ăn.
Thổi Sáo

Đến khi vua Tuyên Vương mất, vua Mẫn Vương nối ngôi, cũng thích nghe sáo. Nhưng chỉ muốn nghe riêng từng người một thổi mà thôi. Đông Quách tiên sinh thấy thế, tìm đường trốn trước.

Lời bàn:

Những kẻ bất tài, gặp may nhờ dịp mà được làm quan có khác gì Đông Quách tiên sinh nói trong truyện này? Những khi ồ ạt, gọi là có mặt cho đủ số, thì còn giữ được địa vị, chớ đến khi khảo sát từng người thì tài nào mà không bị thải!

Lừa đất Kiềm

Đất Kiềm xưa nay vốn không có lừa. Có người hiếu sự tải một ít lừa đến đấy nuôi.

Lừa thả ở dưới chân núi. Buổi đầu, hổ trong núi ra, trông thấy lừa cao lớn, lực lưỡng, tưởng loài thần vật mới giáng sinh. Lại thấy lừa kêu to, hổ sợ quá, cong đuôi chạy. Dần dần về sau hổ nghe tiếng, thấy lúc nào lừa kêu cũng thế lấy làm khinh thường. Một hôm, hổ thử vờn, nhảy xông vào đầu lừa. Lừa giận quá, giơ chân đá, đá đi, đá lại, quanh quẩn chỉ có một ngón đá mà thôi. Hổ thấy vậy mừng, bụng bảo dạ rằng: “Tài nghề con lừa ra chỉ có thế mà thôi”. Rồi hổ gầm thét, chồm lên, vồ lừa, cấu lừa, cắn lừa, ăn thịt lừa, đoạn rồi đi.
Con Lừa đất Kiềm

Lời bàn:

Bài này có ý nói: Ở đời có lắm người, lắm sự, lúc mới biết cho là lạ, thì còn ưa, còn sợ, đến lúc đã biết rõ rồi thì lại khinh thường, chẳng coi vào đâu nữa:

Nhác trông ngỡ tượng tô vàng,

Nhìn ra mới biết chẫu chàng ngày mưa.

Nhưng bài này lại còn có ý chê người khờ dại không biết giữ thân cho kín đáo, để đến nỗi người ta dòm được tâm thuật của mình mà làm hại mình, như con lừa bị con hổ hại vậy. Bài này dùng hai chữ “Kiềm lô” (lừa đất Kiềm) để chỉ những người tài nghệ kém cỏi, không có gì lạ.

Người Vợ Hiền Minh

Thời còn chưa thành danh, có một hôm Dương Tử đang đi trên đường thì nhặt được một thỏi vàng của người khác đánh rơi. Ông vô cùng mừng rỡ đem về nhà đưa cho vợ. Ông nghĩ rằng vợ ông nhìn thấy vàng sẽ cùng chung vui với mình.

Thế nhưng, không ngờ người vợ của ông lại nhíu mày rồi đăm chiêu suy nghĩ một lát. Bà không hề liếc nhìn thỏi vàng ấy mà nói một cách nghiêm túc: “Thiếp nghe nói người liêm khiết không uống nước suối Đạo, người khí tiết cao thượng không ăn đồ bố thí. Huống chi, chàng nhặt được vật quý của người ta đánh rơi, không nghĩ đến việc trả lại cho người mất mà muốn bỏ vào túi riêng. Làm như vậy chẳng phải là làm ô uế phẩm hạnh của mình hay sao?”
Người Vợ Hiền Minh của Dương Tử

Nhạc Dương Tử nghe nói, thẹn quá, liền lập tức đem thỏi vàng trả lại chỗ cũ.

Người vợ thấy chồng biết lỗi lầm liền sửa ngay thì hết sức vui mừng. Bà lại khuyên nhủ: “Nhân lúc còn trẻ, chàng hãy tìm thầy bái sư cầu học, như thế mới có tiền đồ.”

Nhạc Dương Tử nghe lời vợ nói có lý liền từ biệt vợ rời nhà, đi bái sư cầu học. Một năm sau, Nhạc Dương Tử đột ngột trở về nhà. Người vợ kinh hoảng hỏi: “Sao chàng học xong trở về nhanh như thế? Có nguyên nhân nào đặc biệt chăng?”

Nhạc Dương Tử nói: "Thời gian lâu rồi, ta đi rất nhớ nhà. Không có nguyên nhân đặc biệt cả.”

Người vợ hiểu chồng, tận tình chăm sóc chồng nghỉ ngơi mấy ngày. Mấy hôm sau, bà ngồi bên khung cửi nói với chồng:

“Thiếp một mình ở nhà dệt vải, cũng rất bơ vơ khốn khổ. Nhưng chúng ta bây giờ còn trẻ, chịu khổ một chút, rèn luyện chính mình thì mới có lợi.

Chàng xem, thiếp ở nhà dệt vải, những sợi tơ này rất mảnh, con thoi cứ đi đi lại lại, từng chút từng chút tích lũy lại mới dài được một tấc. Lại từng tấc, từng tấc tích lũy mới được một trượng. Bây giờ nếu lấy những mảnh vải đã dệt được trên khung cửi, một nhát dao cắt đứt đi, vậy thì chẳng khác nào sẽ là kiếm củi ba năm thiêu đốt trong một giờ, phí công nhọc sức lại lãng phí mất rất nhiều công lao khổ cực và thời gian.

Chàng ở bên ngoài bái sư cầu học, cũng là như thế, cần phải kiên trì không ngừng nghỉ, tích lũy từng ngày, không ngừng tiến bộ, mới có thể có được thành tựu.”

Nhạc Dương Tử nghe những lời vợ nói thì trong lòng vô cùng cảm động. Ông hạ quyết tâm, đến khắp nơi tìm minh sư xin thỉnh giáo. Đi suốt 7 năm mới quay trở về nhà. Cuối cùng trở thành người đạo đức cao thượng, học vấn uyên bác, được người đời vô cùng kính trọng.

Khi vợ của Nhạc Dương Tử qua đời, quan Thái thú tại địa phương đã cử hành nghi thức an táng long trọng cho bà. Triều đình còn phong tặng cho bà danh hiệu “Trinh nghĩa”.

Trong sách sử “Hậu Hán Thư” cũng có ghi lại sự tích “Người vợ của Nhạc Dương Tử ở Hà Nam”. Một người vợ hiền không chỉ giúp chồng trở thành người có phẩm chất đạo đức cao thượng, thành tựu được sự nghiệp mà người vợ đó còn được sử sách lưu danh ngàn đời.

Thiên Hương

Chú thích: 

Suối Đạo là một con suối thời cổ. Truyền thuyết kể rằng những ai uống nước suối này sẽ trở nên tham tài quên nghĩa.

Cổ nhân giảng: “Trong nhà có người vợ hiền, giống như quốc gia có vị tể tướng tài đức”, hay cũng nói: “Trong nhà có vợ hiền thì người chồng không gặp họa”. Đây đều là cách nói để khẳng định vai trò và đức hạnh của người vợ trong gia đình xưa.

Thời cổ đại, để nhận định một người phụ nữ có phải là “hiền thê, lương mẫu” - người có đức hạnh tài năng hơn người, cổ nhân gọi là “người hiền”, vợ hiền cũng có ý nghĩa như vậy hay không, người ta sẽ căn cứ vào tiêu chuẩn trọng yếu đó là “Tương phu, giáo tử” tức là “giúp chồng, dạy con”. Giúp chồng, dạy con vừa là tiêu chuẩn đánh giá đạo đức của người phụ nữ xưa và cũng là lời khen ngợi đối với người vợ, người mẹ.

Ngày nay chúng ta cũng thường nghe thấy câu: “Đằng sau sự thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng của người phụ nữ.” Quả thực, từ thời xa xưa đến nay có rất nhiều người chồng đạt được những thành công nhất định trong cuộc đời đều là có sự trợ giúp của người vợ hiền giống như câu chuyện của Dương Tử những thành tựu mà ông đạt được đều có quan hệ mật thiết với những điều khuyên bảo và trợ giúp của người vợ.

Kết cuộc của kẻ ngoại tình

Ngày xưa, dưới thời phong kiến, đàn ông được phép có vợ hai vợ ba. Có người có hai vợ, hai cô vợ cùng đẹp, cùng xinh.

Anh láng giềng thấy thế bèn lân la sang trêu ghẹo người vợ cả. Người vợ cả giận lắm quát mắng thậm tệ. Anh láng giềng lại quay sang ghẹo người vợ lẽ, người vợ lẽ bằng lòng và đi lại.
Kết cuộc của kẻ ngoại tình
Kết cuộc của kẻ ngoại tình
Không bao lâu sau, người có hai vợ ấy chết. Anh láng giềng muốn tính cuộc vuông tròn lại sang giạm hỏi người vợ cả.

Có kẻ thấy thế bèn hỏi rằng:

- "Người vợ cả trước đã mắng anh thậm tệ, người vợ lẽ thì vẫn có tình với anh, sao bây giờ anh lại định lấy người vợ cả?"

Lòng cương trực của Án Tử

Dưới thời Vua Trang Công, lúc bấy giờ Thôi Trữ nắm hết mọi quyền hành, một tay thao túng triều ca, Thôi Trữ từ trước vốn đã có ý định làm phản. Bèn hội họp các quan lại binh sĩ lại cùng nhau uống máu ăn thề tìm cách giết Vua. Triều thần ai nấy đều khiếp sợ, răm rắp vâng lời, chỉ có Án Tử nhất quyết cự tuyệt.
Lòng cương trực của Án Tử
Lòng cương trực của Án Tử
Thôi Trữ bảo với Án Tử: "Nếu ngươi nghe ta, khi ta lên ngôi hoàng đế sẽ lập tức phong ngươi làm thừa tướng. Nhược bằng không nghe, ta giết ngay lập tức."

Cổ nhân dạy cách phục lòng người

Cổ nhân dạy cách phục lòng ngườiMình làm người sang trọng giàu có, thì cớ nên kiêu sa.

Mình là bậc trông minh tài trí, thì chớ nên khinh ngạo.

Mình có sức lực khỏe mạnh, thì chớ nên đè nén người.

Mình ăn nói linh lợi, thì chớ nên dối trá người.

Mình còn kém thì phải học, chưa biết thì phải hỏi.

Khổng tử: Mặt trời xa hay gần?

Một hôm Khổng Tử đi dạo chơi quanh thành, thấy hai đứa bé cãi nhau, hỏi tại làm sao, thì một đứa nói rằng: "Cháu thì cho rằng mặt trời, lúc buổi sáng ở gần ta hơn, về buổi trưa ở xa ta hơn."
Khổng tử: Ngọc bất trác bất thành khí, Nhân bất học bất tri lý

Còn một đứa nói: "Còn cháu thì nghĩ rằng mặt trời lúc mới mọc ở xa ta hơn, về buổi trưa mới ở gần ta hơn."

Ðứa kia cãi: "Mặt trời lúc buổi sáng to như cái bánh xe, đến giữa trưa nhỏ như cái bát ăn, thế chẳng phải tại xa ta mới nhỏ, gần ta mới to là gì?"

Ất Giáp tranh luận

Giáp hỏi Ất: "Ðúc đồng làm chuông, đẽo gỗ làm dùi, lấy dùi đánh chuông tiếng kêu boong boong thì tiếng kêu ấy là tiếng kêu của gỗ hay của đồng?"

Ất Giáp tranh luậnẤt đáp: "Lấy dùi gõ vào tường thì vách không kêu, gõ vào chuông thì đồng kêu, thế thì tiếng kêu ở đồng."

Giáp hỏi: "Thế lấy dùi gõ vào đồng tiền không kêu, thế thì có chắc tiếng kêu ở đồng mà ra không?"

Lợn nái giết con

Tranh Đông hồ: Lợn nái giết con
Tranh Đông hồ (hình ảnh chỉ mang tính minh họa)
Có con lợn nái sắc loang lổ đẻ một lứa năm con: bốn con loang lỗ, một con đen tuyền. Lợn nái nuôi bốn con lợn con giống mình rất cẩn thận chu đáo, hơi một tí cũng lo sợ. Còn con lợn đen tuyền khác mình thì ghét bỏ, về sau cắn chết.

Hà Bá Cưới Vợ

Ngày xưa, có tục lệ cứ mỗi năm dân trong làng phải đem một người con gái ném xuống sông để làm vợ cho Hà Bá. Sự mê tín ấy có đã lâu ngày, không ai phá nổi.

Cho tới khi Tây Môn Báo về làm quan ở đấy, ông bèn đích thân đứng ra làm chủ lễ cưới cho Hà Bá. Trước mặt đông đủ tất cả bô lão, hào trưởng, ông đồng bà cốt, ông cho gọi người con gái sắp phải gả cưới cho Hà Bá đến. Ông xem mặt xong, chê rằng: "Người con gái này không được xinh đẹp, nếu ta đem gả cho Hà Bá sẽ trách tội ta mất! Nay nhờ bọn ông đồng xuống nói với Hà bá xin hoãn lại hôm khác, để tìm người đẹp hơn". Ông lập tức sai lính khiêng một ông đồng quăng xuống sông.
Hà Bá Cưới Vợ
Ông đồng lập tức bị lính khiêng ném xuống sông

Yêu nên Tốt, Ghét nên Xấu | Vua Linh Công và Di Tử Hà

Ngày trước, Vua Linh Công nước Vệ rất yêu Di Tử Hà. Theo luật lệ nước Vệ, ai đi trộm xe của vua, thì phải tội chặt chân. Đêm nọ, trời đã khuya có người đến gọi báo tin Mẹ Di Tử Hà ở quê bị đau nặng, Di Tử Hà vội vàng lấy xe vua ra đi thăm mẹ.
Vua Linh Công và Di Tử Hà: Yêu nên Tốt, Ghét nên Xấu

Vua hay tin, khen rằng:

Chết mà còn răn được vua Linh Công

Cừ Bá Ngọc là người hiền mà vua Linh Công nước Vệ không dùng. Di Tử Hà là người dở mà vua lại dùng.

Sử Ngư thấy thế, đã răn nhiều lần, mà vua không nghe. Lúc ông có bệnh, sắp mất, dặn con rằng: "Ta làm quan tại triều nước Vệ, không tiến cử được Cừ Bá Ngọc, thoái trừ được Di Tử Hà thế là bầy tôi không khuyên răn nổi vua, thì khi ta nhắm mắt, không được làm đủ lễ. Cứ để thân xác ta dưới cửa sổ, thế là xong."
Chết mà còn răn được Vua Linh Công

Lúc ông mất, người con cứ làm theo lời dặn. Vua Linh Công đến viếng thấy vậy, lấy làm ngạc nhiên.

Ngựa quý của vua Cảnh Công: Án Tử khéo can được Vua

Vua Cảnh Công nước Tề có con ngựa rất quý, giao cho người giữ ngựa chăn nuôi. Hôm nọ, con ngựa tự nhiên lăn ra chết. Vua Cảnh Công tức giận lắm, cho là người chăn ngựa không được tốt, lệnh sai quân hầu cầm dao để phanh thây người nuôi ngựa.

Án Tử đang ngồi chầu, thấy thế, ngăn lại, hỏi vua rằng:

- "Bẩm bệ hạ, Vua Nghiêu vua Thuấn xưa phanh người thì bắt đầu từ đâu trước?"

Cảnh Công ngơ ngác nhìn rồi nói:
Ngựa quý của vua Cảnh Công: Án Tử khéo can được Vua